🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Kỳ 5: Khoa học cơ bản - lá chắn mềm và sức mạnh cứng của quốc gia

1 giờ trước
Bốn kỳ trước đã lần lượt đi từ việc khẳng định vai trò của khoa học cơ bản, nhận diện những 'điểm nghẽn', tìm lời giải về thể chế và xác định ba trụ cột của hệ sinh thái khoa học hiện đại. Nhưng giá trị của khoa học cơ bản không chỉ nằm ở tăng trưởng kinh tế hay làm chủ công nghệ. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt, khoa học cơ bản đang trở thành nền tảng của năng lực tự chủ quốc gia, từ quốc phòng, an ninh, chủ quyền dữ liệu đến khả năng hoạch định chính sách và bảo vệ lợi ích quốc gia. Khi đó, đầu tư cho khoa học cơ bản không chỉ là đầu tư cho tăng trưởng và tương lai phát triển, mà còn là đầu tư cho năng lực tự chủ quốc gia, khả năng bảo vệ Tổ quốc và vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Khoa học cơ bản - nền móng của năng lực tự chủ quốc gia

Nếu ở các kỳ trước, khoa học cơ bản được nhìn nhận như điểm khởi đầu của đổi mới sáng tạo, công nghệ lõi và tăng trưởng kinh tế, thì trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt, giá trị của khoa học cơ bản còn được mở rộng sang một không gian lớn hơn: trở thành nền tảng của năng lực tự chủ quốc gia.

Ngày nay, sức mạnh của một quốc gia không còn được đo chủ yếu bằng quy mô tài nguyên hay tiềm lực quân sự, mà còn ở khả năng làm chủ tri thức, công nghệ nguồn và năng lực dự báo trước những biến động của thế giới. Quốc phòng, an ninh, chủ quyền số, an ninh năng lượng, an ninh sinh học hay khả năng ứng phó với các thách thức phi truyền thống đều bắt đầu từ những thành tựu của khoa học cơ bản được tích lũy trong nhiều năm.

Thực tiễn thế giới cho thấy, hầu hết các quốc gia có nền quốc phòng hiện đại đều sở hữu nền khoa học cơ bản phát triển. Những công nghệ được coi là “vũ khí chiến lược” của thế kỷ XXI như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, lượng tử, vật liệu mới, công nghệ sinh học hay hàng không vũ trụ đều bắt nguồn từ các nghiên cứu cơ bản kéo dài hàng chục năm trước khi được ứng dụng vào đời sống và quốc phòng.

Trao đổi với PV Báo Pháp luật Việt Nam, GS.TS Chu Hoàng Hà - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, muốn đánh giá đầy đủ vai trò của khoa học cơ bản cần đặt trong bối cảnh vị thế phát triển của Việt Nam và những thách thức an ninh, quốc phòng mà đất nước sẽ phải đối diện trong tương lai.

Theo GS.TS Chu Hoàng Hà, trước hết, khoa học cơ bản chính là nền tảng bảo đảm năng lực tự chủ về công nghệ, đặc biệt là các công nghệ lưỡng dụng và công nghệ phục vụ quốc phòng, an ninh. Một quốc gia không có nền khoa học cơ bản đủ mạnh sẽ rất khó xây dựng được nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, khó làm chủ các công nghệ chiến lược và càng khó bảo đảm tự chủ trong những tình huống khẩn cấp.

“Nếu chỉ dựa vào nhập khẩu công nghệ, chúng ta sẽ luôn đứng trước nguy cơ phụ thuộc, bị phong tỏa hoặc tụt hậu. Thậm chí trong điều kiện xung đột, nhiều hệ thống công nghệ hoặc vũ khí có thể bị vô hiệu hóa nếu không làm chủ được công nghệ cốt lõi”, GS.TS Chu Hoàng Hà phân tích.

Theo GS.TS Chu Hoàng Hà, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới cũng đã thay đổi rất nhiều so với trước đây. An ninh quốc gia không chỉ là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ theo nghĩa truyền thống mà còn bao gồm an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng, an ninh sinh học, an ninh nguồn nước, an ninh biển và an ninh môi trường. Muốn nhận diện sớm, dự báo đúng và chủ động ứng phó với những thách thức đó đều phải dựa trên nền tảng của khoa học cơ bản.

Đó cũng là lý do nhiều quốc gia coi đầu tư cho khoa học cơ bản không đơn thuần là đầu tư cho nghiên cứu, mà là đầu tư cho nền tảng sức mạnh quốc gia trong dài hạn.

Khoa học cơ bản - “lá chắn mềm” trước những thách thức an ninh mới

Nếu trước đây, sức mạnh quốc phòng chủ yếu được nhìn nhận qua số lượng vũ khí, khí tài hay quy mô lực lượng, thì trong kỷ nguyên số, năng lực bảo vệ Tổ quốc ngày càng được quyết định từ những phòng thí nghiệm, trung tâm dữ liệu và các nhóm nghiên cứu khoa học. Nhiều thách thức an ninh mới không xuất hiện trên chiến trường truyền thống mà hình thành trong không gian mạng, dưới đáy biển, trong phòng thí nghiệm sinh học, trên quỹ đạo vệ tinh hay trong chính các dòng dữ liệu số của quốc gia.

Điều đó cũng đồng nghĩa, khoa học cơ bản không còn chỉ tạo ra tri thức, mà đang trở thành “lá chắn mềm” giúp quốc gia chủ động dự báo, phòng ngừa và ứng phó với những nguy cơ ngày càng phức tạp của thế kỷ XXI.

Theo GS.TS Chu Hoàng Hà, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới gắn chặt với việc giữ vững môi trường hòa bình để phát triển, đồng thời bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, quyền chủ quyền trên biển, không gian mạng, không gian số và các lợi ích chiến lược của quốc gia. Để thực hiện được mục tiêu đó, khoa học cơ bản phải được đặt vào trung tâm của nhiều chương trình nghiên cứu trọng điểm.

GS.TS Chu Hoàng Hà dẫn chứng, các nghiên cứu về khí hậu, hải dương học, địa chất và thủy văn giúp dự báo thiên tai cực đoan, nước biển dâng, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển, biến động tài nguyên nước và những thay đổi của môi trường biển. Đây đều là những yếu tố tác động trực tiếp đến an ninh kinh tế, an ninh môi trường, ổn định dân cư cũng như thế trận quốc phòng tại các khu vực chiến lược.

GS.TS Chu Hoàng Hà trao đổi thông tin với PV Báo Pháp luật Việt Nam.

Trong lĩnh vực công nghệ sinh học, y sinh học, dịch tễ học và công nghệ gen, khoa học cơ bản tạo nền tảng để phát hiện sớm các loại dịch bệnh mới, chủ động ứng phó với các nguy cơ sinh học, phát triển thuốc, vaccine và nâng cao năng lực tự chủ của nền y tế quốc gia. Đại dịch Covid-19 đã cho thấy quốc gia nào sở hữu năng lực nghiên cứu mạnh sẽ có khả năng ứng phó nhanh hơn, giảm thiểu thiệt hại và bảo vệ tốt hơn sức khỏe người dân.

Ở không gian số, vai trò của khoa học cơ bản càng trở nên rõ nét. Theo GS.TS Chu Hoàng Hà, toán học, mật mã học, khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo và đặc biệt là công nghệ lượng tử đang trở thành nền tảng để bảo vệ dữ liệu, hạ tầng số, hệ thống thông tin trọng yếu và bảo đảm an ninh mạng quốc gia. Khi dữ liệu đã trở thành tài nguyên chiến lược, thì chủ quyền số cũng quan trọng không kém chủ quyền trên đất liền, trên biển hay trên không.

Bên cạnh đó, các nghiên cứu về vật liệu mới, bán dẫn, năng lượng mới, quang điện tử và công nghệ lưỡng dụng sẽ tạo nền tảng để hình thành các thế hệ khí tài, thiết bị thông minh và công nghiệp quốc phòng hiện đại. Theo các chuyên gia, muốn làm chủ những công nghệ chiến lược này không thể chỉ mua sắm thiết bị hay tiếp nhận chuyển giao công nghệ, mà phải bắt đầu từ năng lực nghiên cứu khoa học cơ bản đủ mạnh.

Thực tiễn phát triển khoa học của Việt Nam cũng cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa khoa học cơ bản và năng lực tự chủ công nghệ. GS.TS Chu Hoàng Hà nhắc lại hình ảnh GS Trần Đại Nghĩa, người được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời về nước, vừa đặt nền móng cho ngành nghiên cứu khoa học của Việt Nam, vừa có những đóng góp đặc biệt quan trọng đối với nền công nghiệp quốc phòng trong những năm đầu của đất nước. Việc Chính phủ giao ông thành lập và trở thành Viện trưởng đầu tiên của Viện Khoa học Việt Nam, tiền thân của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam ngày nay, cũng cho thấy ngay từ rất sớm, Đảng và Nhà nước đã nhìn nhận khoa học cơ bản là một bộ phận của sức mạnh quốc gia.

Theo GS.TS Chu Hoàng Hà, thực tiễn hiện nay tiếp tục khẳng định điều đó. Từ quá trình tiếp cận và làm chủ các công nghệ nền tảng như viễn thông và công nghệ thông tin, nhiều doanh nghiệp khoa học - công nghệ của Việt Nam, tiêu biểu như Viettel, đã từng bước phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế và chế tạo các sản phẩm công nghệ cao phục vụ quốc phòng, an ninh như máy bay không người lái (UAV), hệ thống radar, thiết bị điện tử quân sự và nhiều loại khí tài hiện đại.

“Chỉ khi có nền tảng khoa học cơ bản vững chắc, chúng ta mới có thể tiếp thu, làm chủ, cải tiến và phát triển các công nghệ lõi; từng bước giảm phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài, chủ động đáp ứng yêu cầu về quốc phòng, an ninh cũng như phát triển kinh tế - xã hội”, GS.TS Chu Hoàng Hà nhấn mạnh.

Từ những ví dụ đó có thể thấy, khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến năng lực quốc phòng không còn là câu chuyện của tương lai. Trong kỷ nguyên công nghệ, mọi bước tiến của khoa học cơ bản đều có thể trở thành nền tảng của sức mạnh quốc gia.

Có thể thấy, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng chuyển mạnh sang cạnh tranh về công nghệ và tri thức, đầu tư cho khoa học cơ bản cũng chính là đầu tư cho năng lực phòng thủ từ sớm, từ xa. Một quốc gia chỉ thật sự vững mạnh khi đủ khả năng tự tạo ra tri thức mới, làm chủ công nghệ chiến lược và chủ động bảo vệ lợi ích quốc gia bằng chính sức mạnh khoa học của mình.

Kiến tạo một nền khoa học đủ sức đưa Việt Nam vươn lên bằng tri thức

Nếu khoa học cơ bản là nền móng của công nghệ lõi và là “lá chắn mềm” bảo đảm năng lực tự chủ quốc gia, thì mục tiêu lớn hơn mà Việt Nam hướng tới không chỉ là làm chủ một vài công nghệ chiến lược, mà là từng bước trở thành quốc gia có năng lực tạo ra tri thức mới, đóng góp vào tiến bộ khoa học của nhân loại. Đó cũng là con đường căn bản để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa khát vọng phát triển đến năm 2045.

Đặc biệt, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, cùng quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang từng bước tháo gỡ những rào cản về thể chế, tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho nghiên cứu khoa học. Đồng thời, việc xác định các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu tiên tiến, công nghệ lượng tử, năng lượng mới và dữ liệu lớn cũng mở ra định hướng rõ ràng để tập trung nguồn lực quốc gia vào những lĩnh vực có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh và tự chủ chiến lược của đất nước trong nhiều thập niên tới.

Tuy nhiên, để những định hướng đó thực sự chuyển hóa thành sức mạnh phát triển, điều quan trọng không chỉ là đầu tư nhiều hơn, mà còn là đổi mới tư duy quản trị khoa học, xây dựng cơ chế đủ linh hoạt để nuôi dưỡng sáng tạo và hình thành những nhóm nghiên cứu đủ sức cạnh tranh quốc tế.

PGS.TS Tạ Minh Tuấn - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trao đổi thông tin với PV Báo Pháp luật Việt Nam.

Ở góc độ khoa học xã hội và nhân văn, PGS.TS Tạ Minh Tuấn - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, muốn phát triển bền vững cần chuyển mạnh từ tư duy “lấy tăng trưởng làm trung tâm” sang tư duy “lấy con người làm trung tâm, vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu và động lực của phát triển”.

Theo PGS.TS Tạ Minh Tuấn, khoa học xã hội và nhân văn không chỉ tạo ra các công trình nghiên cứu mà còn góp phần xây dựng hệ giá trị quốc gia, năng lực tự chủ về tư duy phát triển và nền tảng khoa học cho quản trị quốc gia hiện đại. Quốc gia nào quản trị bằng tri thức, bằng dữ liệu và bằng các bằng chứng khoa học sẽ có khả năng thích ứng nhanh hơn trước những biến động lớn của thời đại.

PGS.TS Tạ Minh Tuấn cho rằng, từ nay đến năm 2045 không còn nhiều thời gian để Việt Nam tạo ra bước đột phá. Nếu vẫn duy trì cách đầu tư dàn trải, ngắn hạn và bình quân thì rất khó hình thành những công trình có tầm vóc quốc tế. Ngược lại, nếu mạnh dạn xây dựng cơ chế tài trợ dài hạn cho các nhóm nghiên cứu mạnh, các trung tâm nghiên cứu xuất sắc; chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và đánh giá bằng giá trị cuối cùng của sản phẩm khoa học, Việt Nam hoàn toàn có thể tạo dựng những lĩnh vực khoa học cơ bản có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Nhìn từ góc độ khoa học tự nhiên, GS.TS Chu Hoàng Hà - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, với những nền tảng đang từng bước được hình thành về thể chế, nguồn lực và định hướng phát triển, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để đặt mục tiêu cao hơn: xây dựng năng lực sáng tạo tri thức mới và chuyển hóa tri thức đó thành sức mạnh phát triển quốc gia.

Theo GS.TS Chu Hoàng Hà, đến năm 2045, khoa học cơ bản Việt Nam không chỉ đóng góp vào kho tàng tri thức của nhân loại mà còn phải trở thành nền tảng của đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và năng lực tự chủ khoa học, công nghệ của đất nước. Khi nền kinh tế phát triển sẽ tạo thêm nguồn lực cho khoa học; ngược lại, những thành tựu khoa học sẽ tiếp tục nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo nên vòng tuần hoàn tích cực giữa khoa học và phát triển.

GS.TS Chu Hoàng Hà nhận định, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để kỳ vọng một số lĩnh vực khoa học cơ bản đạt trình độ quốc tế nếu được đầu tư đúng hướng và đủ dài hạn. Toán học có thể hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh về toán học ứng dụng, trí tuệ nhân tạo và khoa học dữ liệu; vật lý phát triển các hướng lượng tử, vật lý tính toán và vật lý hạt nhân; hóa học tạo lợi thế ở vật liệu mới, hóa dược và hóa học xanh; còn sinh học có nhiều tiềm năng bứt phá nhờ lợi thế về đa dạng sinh học cùng sự kết hợp với các công nghệ tiên tiến như chỉnh sửa gen, sinh học tổng hợp và trí tuệ nhân tạo.

Theo GS.TS Chu Hoàng Hà, xây dựng “trường phái khoa học Việt Nam” không có nghĩa là tách biệt khỏi thế giới, mà là tạo ra những hướng nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và kết quả khoa học mang dấu ấn riêng, được cộng đồng khoa học quốc tế ghi nhận. “Tôi tin điều đó hoàn toàn có thể đạt được nếu chúng ta có tầm nhìn dài hạn, đầu tư đúng hướng và hành động đủ quyết liệt ngay từ hôm nay”, GS.TS Chu Hoàng Hà nhấn mạnh.

Nhìn lại toàn bộ hành trình của loạt bài, từ việc khẳng định vai trò của khoa học cơ bản, nhận diện những điểm nghẽn, tìm lời giải về thể chế, đầu tư cho nhân lực, dữ liệu, hạ tầng đến câu chuyện bảo đảm quốc phòng, an ninh và khát vọng phát triển đất nước, có thể thấy tất cả đều gặp nhau ở một điểm chung: khoa học cơ bản không phải lĩnh vực đứng phía sau sự phát triển, mà chính là nơi khởi nguồn của mọi năng lực phát triển bền vững.

Lịch sử các quốc gia vươn lên thành cường quốc khoa học cho thấy, chưa có dân tộc nào bước lên đỉnh cao của công nghệ nếu không bắt đầu từ khoa học cơ bản. Những phát minh làm thay đổi thế giới, những ngành công nghiệp mới, những công nghệ chiến lược và cả năng lực tự chủ quốc gia đều được hình thành từ những nghiên cứu nền tảng được nuôi dưỡng bền bỉ qua nhiều thế hệ.

Đối với Việt Nam, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã mở ra một giai đoạn phát triển mới, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là đột phá chiến lược của đất nước. Tuy nhiên, như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ tại Hội nghị sơ kết 1 năm 6 tháng thực hiện Nghị quyết 57, “chủ trương đã rõ, thể chế đã từng bước hoàn thiện, nguồn lực đã được bố trí, quyết tâm chính trị đã cao, khí thế hành động cũng đã được khơi dậy, nhưng kết quả thực tế vẫn chưa tương xứng.”

Khoảng cách giữa khát vọng và hiện thực sẽ chỉ được rút ngắn khi những chủ trương lớn được chuyển hóa thành các công trình khoa học có giá trị, những công nghệ lõi do người Việt Nam làm chủ, các trường phái nghiên cứu mang dấu ấn Việt Nam và những quyết sách quốc gia được kiến tạo trên nền tảng tri thức và bằng chứng khoa học.

Đầu tư cho khoa học cơ bản vì thế không phải là khoản chi cho một tương lai xa, mà là đầu tư cho sức mạnh cạnh tranh, năng lực tự chủ và vị thế quốc gia ngay từ hôm nay. Khi thể chế đủ thông thoáng, nhân tài được trọng dụng, dữ liệu được khai mở, hạ tầng nghiên cứu được đầu tư đúng tầm và khoa học trở thành nền tảng của mọi quyết sách phát triển, Việt Nam sẽ không chỉ là quốc gia ứng dụng công nghệ, mà từng bước trở thành quốc gia sáng tạo tri thức, làm chủ công nghệ chiến lược và đóng góp nhiều hơn cho tiến bộ khoa học của nhân loại.

Đó cũng là con đường bền vững nhất để hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 - không chỉ bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế, mà bằng sức mạnh của tri thức, khoa học, công nghệ và khát vọng vươn lên của cả dân tộc.

(Kỳ cuối - Hết )

Trần Sơn

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ