🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Kỳ 1: Khi tri thức trở thành sức mạnh quốc gia

1 giờ trước
Trong suốt nhiều thế kỷ, sức mạnh của một quốc gia được đo bằng tài nguyên, lãnh thổ hay tiềm lực quân sự. Nhưng trong thế kỷ XXI, cán cân quyền lực đang dịch chuyển sang tri thức, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo. Những quốc gia dẫn đầu thế giới hôm nay đều có điểm chung: họ đã đầu tư bền bỉ cho khoa học cơ bản từ nhiều thập kỷ trước. Đối với Việt Nam, nếu muốn vượt qua bẫy thu nhập trung bình, làm chủ công nghệ chiến lược và hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển vào năm 2045, con đường không thể khác là xây dựng một nền khoa học cơ bản đủ mạnh để tạo ra tri thức, công nghệ và sức cạnh tranh của chính mình.

Khi cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia không còn chỉ diễn ra trên thị trường hay trong các nhà máy, mà chuyển mạnh sang cuộc đua về tri thức, công nghệ lõi và nhân tài, khoa học cơ bản đang trở thành nền tảng quyết định năng lực tự chủ và vị thế của mỗi quốc gia. Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản không chỉ đặt ra yêu cầu tháo gỡ những điểm nghẽn kéo dài về thể chế, đầu tư và nhân lực, mà còn mở ra một tư duy phát triển mới: coi đầu tư cho khoa học cơ bản là đầu tư cho tương lai dân tộc. Loạt bài 5 kỳ: “Cuộc chuyển mình của khoa học cơ bản Việt Nam trong kỷ nguyên mới” phân tích những vấn đề cốt lõi của nền khoa học Việt Nam, từ thực trạng, những nút thắt cần tháo gỡ đến các quyết sách mang tính chiến lược nhằm xây dựng nền khoa học hiện đại, tự chủ, có khả năng tạo ra công nghệ lõi và đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.

Trong phòng thí nghiệm, những dòng dữ liệu vẫn chạy liên tục trên màn hình máy tính hiệu năng cao. Ở một góc khác, nhóm nghiên cứu đang kiên nhẫn phân tích từng mẫu vật. Không có tiếng máy móc ồn ào như một dây chuyền sản xuất, cũng không có những sản phẩm được đưa ngay ra thị trường. Nhưng chính từ những công việc thầm lặng ấy, nhiều năm sau có thể hình thành một công nghệ mới, một loại vật liệu mới, một lời giải cho những bài toán lớn của đất nước.

Ít ai biết rằng, phía sau nhiều quyết sách phát triển, nhiều công nghệ và nhiều ngành công nghiệp hiện đại đều bắt đầu từ những nghiên cứu như vậy. Khi thế giới bước vào cuộc cạnh tranh về tri thức, khoa học cơ bản đã trở thành nền tảng của sức mạnh quốc gia.

Cuộc đua tài nguyên đến cuộc đua tri thức

Nếu như trong thế kỷ XX, sức mạnh của một quốc gia được đo bằng diện tích lãnh thổ, nguồn tài nguyên thiên nhiên, quy mô dân số hay tiềm lực quân sự thì bước sang thế kỷ XXI, “thước đo” ấy đang thay đổi nhanh chóng. Cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia giờ đây diễn ra quyết liệt trên một “mặt trận” mới - tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Chỉ trong vài năm trở lại đây, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn, điện toán lượng tử, công nghệ sinh học, vật liệu mới hay dữ liệu lớn đã trở thành những lĩnh vực quyết định vị thế của các nền kinh tế hàng đầu thế giới. Đằng sau những con chip hiện đại, những mô hình AI hay các loại vaccine thế hệ mới đều là kết quả của hàng chục năm nghiên cứu khoa học cơ bản được đầu tư bền bỉ, liên tục và có chiến lược.

Đó cũng là lý do trong kết luận về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu phải thay đổi tư duy, coi khoa học cơ bản không chỉ là hoạt động học thuật của các viện, trường mà là nền tảng chiến lược quyết định năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và tương lai phát triển của quốc gia.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo ngày 25/5/2026 - Ảnh: TTXVN

Chia sẻ với PV - Báo Pháp luật Việt Nam, GS.TS Chu Hoàng Hà - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam khẳng định: Khoa học cơ bản chính là nền tảng sức mạnh của quốc gia vì đây là nguồn gốc tạo ra tri thức mới, là cơ sở hình thành các công nghệ lõi và quyết định năng lực cạnh tranh của quốc gia trong dài hạn.

Theo GS.TS Chu Hoàng Hà, hầu hết những công nghệ đang làm thay đổi thế giới ngày nay đều bắt nguồn từ những nghiên cứu nền tảng được thực hiện từ nhiều thập kỷ trước. Cơ học lượng tử đặt nền móng cho ngành công nghiệp bán dẫn và vi mạch; những nghiên cứu về ADN, tế bào và di truyền học mở đường cho công nghệ sinh học hiện đại; còn toán học, khoa học máy tính, thống kê và khoa học thần kinh đã tạo nền tảng cho sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo.

Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cũng cho thấy, không có cường quốc khoa học - công nghệ nào hình thành chỉ bằng việc mua hoặc tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản xác định khoa học, công nghệ và giáo dục là ba trụ cột của công cuộc tái thiết đất nước. Hàn Quốc kiên trì chiến lược phát triển công nghiệp gắn với đầu tư mạnh cho nghiên cứu và đào tạo nhân lực chất lượng cao. Trung Quốc từ cuối những năm 1970 đã đưa hàng vạn sinh viên, nhà khoa học ra nước ngoài học tập, đồng thời coi khoa học và công nghệ là “lực lượng sản xuất hàng đầu”, từng bước xây dựng năng lực nghiên cứu nội sinh.

Điểm chung của những quốc gia này không phải chỉ ở việc tiếp nhận công nghệ tiên tiến, mà quan trọng hơn là quyết tâm làm chủ các nguyên lý khoa học nền tảng đứng sau công nghệ. Chính quá trình chuyển đổi từ “học hỏi” sang “làm chủ”, từ “tiếp nhận” sang “sáng tạo” đã giúp họ vươn lên trở thành những trung tâm công nghệ của thế giới.

Theo GS. TS Chu Hoàng Hà - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đối với mỗi quốc gia, khoa học cơ bản thường được phát triển theo hai hướng. Một là nghiên cứu mang tính khai sáng nhằm khám phá các quy luật mới của tự nhiên và mở rộng biên giới tri thức của nhân loại. Hai là nghiên cứu cơ bản định hướng chiến lược, tập trung làm chủ, phát triển những nguyên lý khoa học để phục vụ trực tiếp mục tiêu phát triển đất nước.

“Đối với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, ưu tiên trước mắt là đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản định hướng chiến lược, gắn với các công nghệ then chốt mà đất nước cần làm chủ. Đây là con đường ngắn nhất để từng bước nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và xây dựng nền kinh tế dựa trên tri thức”, GS. TS Chu Hoàng Hà nhấn mạnh.

Thông điệp ấy cũng chính là lời cảnh báo đối với những quốc gia vẫn lựa chọn tăng trưởng chủ yếu dựa vào gia công, lắp ráp hoặc nhập khẩu công nghệ. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, lợi thế về lao động giá rẻ hay tài nguyên thiên nhiên sẽ dần thu hẹp, trong khi năng lực tạo ra tri thức mới mới là yếu tố quyết định sức mạnh và vị thế quốc gia trong nhiều thập niên tới.

Có thể nói, cuộc cạnh tranh toàn cầu hiện nay không còn là cuộc đua xem ai sở hữu nhiều tài nguyên hơn, mà là cuộc đua xem ai tạo ra được nhiều tri thức hơn. Và khoa học cơ bản chính là nơi khởi nguồn của sức mạnh ấy.

Muốn làm chủ công nghệ phải làm chủ khoa học cơ bản

Sau gần bốn thập kỷ, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào gia công, lắp ráp, khai thác lợi thế lao động và tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài. Điều đó giúp nền kinh tế tăng trưởng nhanh trong một giai đoạn, nhưng cũng đặt ra giới hạn khi cuộc cạnh tranh toàn cầu đang chuyển sang làm chủ công nghệ lõi và đổi mới sáng tạo.

Thực tế cho thấy, doanh nghiệp có thể nhập khẩu dây chuyền sản xuất, mua thiết bị hay tiếp nhận quy trình công nghệ, nhưng không thể mua được năng lực sáng tạo hay tư duy khoa học. Khi những công nghệ cốt lõi ngày càng được bảo hộ chặt chẽ và trở thành công cụ cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia, việc phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu sẽ khiến nền kinh tế đối mặt với nhiều rủi ro về an ninh công nghệ và năng lực cạnh tranh dài hạn.

GS.TS Chu Hoàng Hà - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trao đổi với PV Báo Pháp luật Việt Nam về vai trò của khoa học cơ bản trong nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh quốc gia.

Trao đổi với PV - Báo Pháp luật Việt Nam, GS. TS Chu Hoàng Hà - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhấn mạnh: Đầu tư cho khoa học cơ bản thực chất là đầu tư cho năng lực tự chủ công nghệ trong tương lai. Một quốc gia có thể dựa vào nhập khẩu và tiếp thu công nghệ trong một giai đoạn nhất định. Tuy nhiên, nếu thiếu nền tảng khoa học cơ bản và năng lực nghiên cứu nội sinh thì sẽ rất khó làm chủ công nghệ lõi, tạo ra những đột phá công nghệ và giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài.

Theo GS.TS Chu Hoàng Hà, kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc đều cho thấy, trước khi trở thành những cường quốc công nghệ, các quốc gia này đã dành nhiều thập kỷ đầu tư bền bỉ cho khoa học cơ bản, xây dựng đội ngũ nhà khoa học trình độ cao và hình thành hệ sinh thái nghiên cứu đủ mạnh. Chính nền tảng đó đã tạo ra những doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới và những ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao.

Đối với Việt Nam, mục tiêu trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đòi hỏi phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào lợi thế chi phí sang dựa vào tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Muốn vậy, khoa học cơ bản không thể chỉ được nhìn nhận là hoạt động học thuật trong các viện nghiên cứu, mà phải trở thành nền móng của toàn bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

Ở góc độ đào tạo và nghiên cứu, PGS. TS Nguyễn Hữu Thanh - Hiệu trưởng Trường Điện - Điện tử (Đại học Bách khoa Hà Nội) cho rằng, đại học nghiên cứu chính là mắt xích quan trọng nhất trong quá trình hình thành năng lực khoa học và công nghệ của một quốc gia.

PGS. TS Nguyễn Hữu Thanh phân tích: Có thể hình dung đây là một chuỗi giá trị liên tục: nghiên cứu cơ bản tạo ra tri thức mới; nghiên cứu ứng dụng chuyển tri thức thành công nghệ; còn đổi mới sáng tạo đưa công nghệ vào sản phẩm và thị trường. Trong chuỗi giá trị đó, đại học nghiên cứu giữ vai trò trung tâm, bởi đây là nơi tạo ra tri thức mới, đào tạo nguồn nhân lực nghiên cứu chất lượng cao và chuyển giao kết quả nghiên cứu cho doanh nghiệp.

PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh, Hiệu trưởng Trường Điện - Điện tử, Đại học Bách khoa Hà Nội trao đổi với PV Báo Pháp luật Việt Nam về vai trò của đại học nghiên cứu trong phát triển khoa học cơ bản và công nghệ chiến lược.

Thực tiễn ở nhiều quốc gia phát triển cũng chứng minh, phần lớn các công nghệ làm thay đổi thế giới đều không ra đời trong các nhà máy mà bắt đầu từ những phòng thí nghiệm của các trường đại học và viện nghiên cứu. Từ Internet, công nghệ bán dẫn, vật liệu mới đến trí tuệ nhân tạo đều trải qua quá trình tích lũy tri thức khoa học trong nhiều năm trước khi được doanh nghiệp thương mại hóa và tạo ra những tập đoàn công nghệ toàn cầu.

Điều đó cũng đặt ra yêu cầu mới đối với hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Đại học không chỉ có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực, mà còn phải trở thành trung tâm sáng tạo tri thức, nơi các nhà khoa học, giảng viên và sinh viên cùng tham gia giải quyết những bài toán lớn của quốc gia, từ chuyển đổi số, phát triển công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo đến chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn.

Theo PGS. TS Nguyễn Hữu Thanh, Hiệu trưởng Trường Điện - Điện tử (Đại học Bách khoa Hà Nội), đầu tư cho đại học nghiên cứu cũng chính là đầu tư cho năng lực cạnh tranh dài hạn của quốc gia. Chỉ khi hình thành được các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm hiện đại và môi trường học thuật tự do, Việt Nam mới có thể tạo ra những công nghệ mang dấu ấn của chính mình thay vì chỉ tiếp nhận thành quả của người khác.

Nhìn rộng hơn, thông điệp xuyên suốt từ các chuyên gia đều gặp nhau ở một điểm: khoa học cơ bản không phải là khoản chi tiêu cho hiện tại mà là khoản đầu tư cho tương lai. Một quốc gia có thể nhập khẩu công nghệ trong một giai đoạn, nhưng không thể xây dựng vị thế cường quốc nếu thiếu năng lực tạo ra tri thức mới. Con đường đi tới tự chủ công nghệ vì thế luôn bắt đầu từ việc làm chủ khoa học cơ bản.

Nói cách khác, muốn sở hữu công nghệ của chính mình, Việt Nam trước hết phải sở hữu năng lực tạo ra tri thức của chính mình.

Từ những phòng thí nghiệm đến những quyết sách của đất nước

Không ít người vẫn cho rằng khoa học cơ bản là những công trình nghiên cứu khô khan, xa rời thực tiễn, chỉ tồn tại trong phòng thí nghiệm hoặc trên các tạp chí khoa học. Thực tế lại hoàn toàn ngược lại. Nhiều quyết sách lớn của đất nước, nhiều công nghệ phục vụ trực tiếp đời sống và cả những vấn đề hệ trọng liên quan đến an ninh, môi trường, sức khỏe cộng đồng đều bắt nguồn từ những nghiên cứu cơ bản được tích lũy bền bỉ trong nhiều năm.

Nhưng nhìn vào những dấu mốc phát triển của đất nước nhiều năm qua sẽ thấy, ở phía sau không ít quyết sách lớn luôn có dấu ấn của khoa học cơ bản.

Gần nửa thế kỷ qua, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã trở thành một trong những cái nôi của nền khoa học cơ bản nước nhà. Từ Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học đến Khoa học Trái đất, nhiều thế hệ nhà khoa học đã đặt nền móng cho các trường phái nghiên cứu, đào tạo đội ngũ chuyên gia đầu ngành và tạo dựng những luận cứ khoa học phục vụ phát triển đất nước.

GS.TS Chu Hoàng Hà cho biết, những đóng góp của khoa học cơ bản không chỉ thể hiện ở các công bố quốc tế hay giải thưởng khoa học, mà còn hiện diện trong nhiều quyết sách quan trọng của quốc gia.

Các nhà khoa học của Viện đã trực tiếp tham gia nghiên cứu, tư vấn và phản biện đối với hàng loạt chương trình, dự án lớn như quy hoạch hệ thống cảng biển nước sâu, nghiên cứu giải pháp thoát lũ Đồng bằng sông Cửu Long, khai thác vùng Đồng Tháp Mười, đánh giá địa chất phục vụ phát triển kinh tế biển hay nghiên cứu động đất kích thích tại Thủy điện Sông Tranh 2. Những kết luận khoa học đã trở thành cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý đưa ra quyết định, góp phần bảo đảm an toàn cho các công trình trọng điểm và định hướng phát triển kinh tế - xã hội.

Trong lĩnh vực môi trường, các nhà khoa học cũng là lực lượng nòng cốt tham gia xác định nguyên nhân sự cố môi trường biển miền Trung do Formosa gây ra năm 2016; đánh giá vụ cá chết hàng loạt ở Hồ Tây; xử lý sự cố ô nhiễm sau vụ cháy kho hóa chất Công ty Rạng Đông hay nhiều vấn đề môi trường khác. Mỗi kết luận khoa học không chỉ góp phần làm sáng tỏ nguyên nhân sự cố mà còn là cơ sở để các cơ quan chức năng ban hành chính sách khắc phục hậu quả và bảo vệ quyền lợi của người dân.

Đào tạo đội ngũ nhà khoa học trẻ ngay từ giảng đường và phòng thí nghiệm là nền tảng để xây dựng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao cho đất nước.

Ở lĩnh vực công nghệ sinh học, việc nghiên cứu và phát triển thành công vaccine cúm gia cầm A/H5N1, công nghệ xử lý đất nhiễm dioxin bằng chế phẩm vi sinh hay công nghệ giám định ADN hài cốt liệt sĩ đã chứng minh giá trị to lớn của những nghiên cứu nền tảng đối với sức khỏe cộng đồng, khắc phục hậu quả chiến tranh và các hoạt động mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Trong lĩnh vực vật liệu mới, công nghệ sơn chống cháy do các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu đã được ứng dụng tại nhiều công trình trọng điểm. Ở lĩnh vực công nghệ vũ trụ, việc từng bước làm chủ công nghệ thiết kế, chế tạo và vận hành vệ tinh đã mở ra năng lực mới trong quan sát tài nguyên, dự báo thiên tai, bảo vệ môi trường và phục vụ quốc phòng, an ninh.

Không chỉ tạo ra tri thức, nhiều kết quả nghiên cứu còn từng bước được chuyển hóa thành sản phẩm và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế. Theo Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Chu Hoàng Hà, triển khai Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị, Viện đã công bố danh mục 112 công nghệ sẵn sàng chuyển giao cho doanh nghiệp, địa phương và người dân. Đây là bước đi quan trọng nhằm rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường, biến tri thức thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Ở góc độ đào tạo nguồn nhân lực, PGS.TS Trần Quốc Bình - Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, giá trị lớn nhất của khoa học cơ bản không chỉ nằm ở các công trình nghiên cứu, mà còn ở việc hình thành đội ngũ con người có khả năng sáng tạo tri thức.

PGS, TS Trần Quốc Bình cho biết, nhiều thế hệ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ của nhà trường hiện đang giữ vai trò nòng cốt tại các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ cao, cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức quốc tế. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, vật liệu mới hay công nghệ sinh học phát triển mạnh mẽ, sinh viên được đào tạo từ nền tảng khoa học cơ bản đang thể hiện rõ lợi thế về tư duy phân tích, năng lực nghiên cứu độc lập và khả năng thích ứng với những công nghệ mới.

“Khoa học cơ bản không chỉ tạo ra những nhà khoa học giỏi mà còn tạo ra nguồn nhân lực có tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề và khả năng thích ứng trước những biến đổi rất nhanh của khoa học, công nghệ. Đây chính là nền tảng của đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững đất nước”, PGS.TS Trần Quốc Bình nhấn mạnh.

Những kết quả đó cho thấy Việt Nam không phải bắt đầu từ con số không. Chúng ta đã có đội ngũ các nhà khoa học tâm huyết, có những lĩnh vực đạt trình độ quốc tế, có nhiều công trình mang lại giá trị thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội và khẳng định trí tuệ Việt Nam trên bản đồ khoa học thế giới.

Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tế, những thành tựu ấy vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Nghiên cứu còn phân tán, thiếu các nhóm nghiên cứu xuất sắc, thiếu những trung tâm khoa học tầm cỡ, cơ chế đầu tư còn dàn trải, nguồn nhân lực chất lượng cao chưa được phát huy hết năng lực. Chính những “điểm nghẽn” đó đang làm chậm quá trình chuyển hóa tri thức thành sức mạnh quốc gia.

Nhìn lại chặng đường đã qua, có thể thấy Việt Nam không thiếu những nhà khoa học giỏi, cũng không thiếu những công trình có giá trị. Điều đất nước còn thiếu là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng những ý tưởng lớn, bảo vệ những nghiên cứu dài hạn và chuyển hóa tri thức thành sức mạnh quốc gia. Chính vì vậy, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ nghiên cứu khoa học cơ bản mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra không chỉ nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn trước mắt, mà còn là bước chuẩn bị cho năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới.

Bởi trước khi tạo ra những công nghệ dẫn dắt tương lai, Việt Nam cần tháo gỡ những “nút thắt” đang níu chân chính nền khoa học của mình.

(Còn nữa)

Kỳ 2: Những “điểm nghẽn” đang níu chân nền khoa học Việt Nam

Trần Sơn

TIN LIÊN QUAN

























Home Icon VỀ TRANG CHỦ