Kinh nghiệm từ phản ứng theo 3 lớp của Australia về an ninh năng lượng

Một trạm xăng ở Canberra, Australia. Ảnh: THX/TTXVN
Trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN tại Australia, Tiến sĩ Đỗ Nam Thắng - giảng viên cao cấp tại trường Chính sách công Crawford thuộc Đại học Quốc gia Australia, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Việt Nam, cho biết Australia đã phản ứng theo 3 lớp.
Lớp thứ nhất là can thiệp khẩn cấp vào thị trường nhiên liệu. Chính phủ tạm thời giảm 20% nghĩa vụ dự trữ tối thiểu (MSO) đối với các nhà nhập khẩu và cung cấp xăng, diesel, qua đó đưa thêm khoảng 760 triệu lít ra thị trường, ưu tiên khu vực vùng sâu, vùng xa. Chính phủ cũng tạm thời nới lỏng một số tiêu chuẩn môi trường đối với nhiên liệu, cho phép sử dụng xăng dầu có hàm lượng lưu huỳnh cao hơn trong ngắn hạn. Đồng thời, thành lập Nhóm công tác khẩn cấp về cung ứng xăng dầu để điều phối, tăng cường giám sát hành vi “găm hàng”, tăng giá và liên tục cập nhật tình hình thị trường năng lượng trong nước cũng như quốc tế, đưa ra khuyến nghị chính sách theo tuần thay vì theo quý như trước đây.
Lớp thứ hai là tăng cường năng lực lọc dầu trong nước. Australia hiện chỉ còn 2 nhà máy lọc dầu lớn và phải nhập khoảng 90% lượng nhiên liệu tiêu dùng. Chính phủ đã kéo dài cơ chế hỗ trợ cho các nhà máy lọc dầu thông qua chương trình Chi trả cho Dịch vụ An ninh xăng dầu nhằm duy trì năng lực chế biến trong nước.
Lớp thứ ba là củng cố an ninh khí đốt và điện như một “hàng rào đệm” cho hệ thống năng lượng. Chính phủ Australia đang chuyển dần từ cơ chế khuyến khích và can thiệp hành chính sang thiết lập nghĩa vụ cung ứng khí đốt cho thị trường nội địa. Tuy nhiên cơ chế này vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Trước đây, chỉ bang Tây Australia áp dụng chính sách giữ lại một phần khí đốt cho tiêu dùng trong nước trước khi xuất khẩu. Vì vậy, nhìn chung giá khí trong nước - đặc biệt tại các bang phía Đông - vẫn phụ thuộc đáng kể vào giá khí đốt trên thị trường quốc tế, dù Australia là một trong ba nước xuất khẩu khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) lớn nhất thế giới (cùng với Mỹ và Qatar).
Theo Tiến sĩ Đỗ Nam Thắng, về hiệu quả ngắn hạn, các biện pháp này có tác dụng tạm thời ngăn tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng và ổn định tâm lý thị trường. Tuy nhiên, các giải pháp đó chủ yếu mang tính ngắn hạn và chưa xử lý được các điểm yếu mang tính cấu trúc, đặc biệt là sự phụ thuộc lớn vào nhập khẩu nhiên liệu tinh chế và việc giá khí đốt trong nước liên thông chặt chẽ với thị trường quốc tế.
Trên thực tế, Australia vẫn đang phải đối mặt với những thách thức đáng kể. Tính đến ngày 26/3, dù mới chỉ có 6 trong số 81 chuyến tàu chở dầu bị hủy do khó khăn từ phía nhà cung ứng, nhưng hơn 470 cây xăng đã hết ít nhất một loại nhiên liệu, giá xăng dầu tăng khoảng 30% so với tháng 2/2026. Australia hiện chỉ có nguồn dự trữ diesel và nhiên liệu hàng không đủ trong khoảng 30 ngày và đối với xăng là 38 ngày. Đồng thời, khoảng 90% nhiên liệu tiêu dùng trong nước phải nhập khẩu, dù Australia là một trong những quốc gia xuất khẩu than và khí hóa lỏng hàng đầu thế giới.
Australia cũng xuất khẩu dầu thô nhưng lại nhập khẩu nhiên liệu tinh chế, do lựa chọn tối ưu hóa chi phí trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, trong bối cảnh các cú sốc địa chính trị ngày càng gia tăng, cách tiếp cận tối ưu hóa chi phí này đang bộc lộ những rủi ro đáng kể đối với an ninh năng lượng quốc gia.
Theo Tiến sĩ Đỗ Nam Thắng, một quốc gia xuất khẩu năng lượng lớn như Australia vẫn có thể đối mặt với rủi ro an ninh năng lượng nội địa cho thấy an ninh năng lượng không chỉ là vấn đề tài nguyên, mà còn là vấn đề thiết kế thị trường, điều phối thể chế và địa chính trị.
Tiến sĩ Đỗ Nam Thắng nhận định cú sốc Trung Đông ít có khả năng khiến Australia từ bỏ chuyển dịch năng lượng, ngược lại, điều này đang làm thay đổi định nghĩa của “chuyển dịch bền vững”. Trước đây, trọng tâm là giảm phát thải; nay trọng tâm kép là giảm phát thải và giảm mức độ “phơi nhiễm” trước các cú sốc địa chính trị. Điều này khiến Chính phủ Australia chú ý hơn tới đa dạng hóa thị trường và đối tác; tăng cường chế biến trong nước; đầu tư vào công nghệ giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu, bao gồm pin lưu trữ năng lượng dài hạn và điện hóa giao thông và phát triển khai khoáng chiến lược. Trong thời gian tới, Australia nhiều khả năng sẽ tiếp tục đẩy mạnh các chiến lược như Tương lai sản xuất tại Australia, Chiến lược pin quốc gia và Dự trữ chiến lược khoáng sản thiết yếu nhằm nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng năng lượng sạch và công nghệ.
Bên cạnh đó, Australia cũng đang điều chỉnh chiến lược phát triển ngành điện theo hướng đẩy nhanh triển khai điện gió, điện Mặt Trời, sản xuất và lưu trữ năng lượng, hệ thống truyền tải và các dịch vụ ổn định hệ thống. Điều đó có nghĩa là chuyển dịch không chỉ là phát triển nguồn điện tái tạo, mà là xây dựng toàn bộ kiến trúc hệ thống như lưu trữ, lưới điện, quy hoạch...
Nói cách khác, Australia không quay lại mô hình năng lượng hóa thạch, mà đang tái thiết kế quá trình chuyển dịch theo hướng an toàn hơn, linh hoạt hơn và ít phụ thuộc hơn. Tiến sĩ Đỗ Nam Thắng cho rằng quan điểm chiến lược của Australia trong ngắn hạn là vẫn duy trì vai trò của khí đốt và năng lực dự phòng, còn trong dài hạn là đẩy mạnh năng lượng tái tạo, điện hóa, lưu trữ, hạ tầng truyền tải và công nghiệp khoáng sản chiến lược.
Từ thực tế triển khai ngắn hạn các mô hình năng lượng cũng như xu hướng chiến lược dài hạn ở Australia, Tiến sĩ Đỗ Nam Thắng cho rằng Việt Nam cần thực hiện một số biện pháp để vừa đảm bảo an ninh năng lượng, vừa đạt được mục tiêu tăng trưởng nhanh bền vững.
Thứ nhất là tăng cường an ninh năng lượng và khả năng chống sốc ngắn hạn. Việt Nam cần rà soát lại toàn bộ chuỗi cung ứng nhiên liệu theo hướng đa dạng hóa nguồn cung, đồng thời sớm thiết lập hệ thống dự trữ nhiên liệu chiến lược ở cấp quốc gia. Cần giảm mức độ dễ tổn thương trước biến động giá nhiên liệu nhập khẩu thông qua hợp đồng dài hạn, đa dạng hóa nguồn cung, dự trữ, hạ tầng và các công cụ thị trường. Về dài hạn, coi phát triển điện hạt nhân như một nguồn điện nền ổn định, phát thải thấp cũng cần được xem xét nghiêm túc.
Thứ hai là xây dựng hệ thống điện một cách toàn diện, không chỉ tập trung vào tăng công suất nguồn. Kinh nghiệm của Australia cho thấy khi điện gió và điện Mặt Trời tăng nhanh, độ tin cậy và hiệu quả hệ thống phụ thuộc nhiều vào lưu trữ năng lượng, truyền tải, dịch vụ phụ trợ và điều tiết thị trường. Với Việt Nam, sẽ cần ưu tiên hơn cho truyền tải liên vùng, lưu trữ năng lượng, dịch vụ phụ trợ và cải cách thị trường điện nhằm tạo tín hiệu đầu tư dài hạn, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng điện. Nếu không, Việt Nam có thể rơi vào tình trạng “có nguồn nhưng không có hệ thống để phân phối và tiêu thụ”.
Thứ ba là phát triển chính sách công nghiệp năng lượng sạch gắn với an ninh chuỗi cung ứng. Thế giới đang chuyển từ tư duy “tối ưu chi phí” sang “tối ưu rủi ro”, trong đó các quốc gia chú trọng đa dạng hóa đối tác và giảm phụ thuộc vào một nguồn cung duy nhất. Việt Nam nên lựa chọn một số khâu có lợi thế để phát triển, không nhất thiết làm toàn bộ chuỗi, nhưng đủ để nâng cao năng lực nội địa và vị thế trong chuỗi giá trị khu vực.
Cuối cùng, mấu chốt không chỉ nằm ở nguồn lực tài chính, mà còn ở năng lực điều phối thể chế, tức là khả năng kết nối chính sách năng lượng với công nghiệp, thương mại và an ninh quốc gia trong một chiến lược thống nhất. Nếu không có sự điều phối này, rất khó để đồng thời đạt được tăng trưởng nhanh, giá năng lượng hợp lý, giảm rủi ro địa chính trị và mục tiêu phát thải thấp.
Thanh Tú (TTXVN)
5 giờ trước
6 giờ trước
9 giờ trước
16 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 phút trước
14 phút trước
40 phút trước
43 phút trước
50 phút trước
59 phút trước
1 giờ trước