🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Khủng hoảng Hormuz và UAE rời OPEC: Hai sự kiện đánh dấu hồi kết của trật tự dầu mỏ cũ

1 giờ trước
Khi giá dầu Brent vượt 120 USD/thùng vào tuần trước trong bối cảnh căng thẳng eo biển Hormuz gia tăng trở lại và việc UAE rời OPEC, phản ứng của thị trường cho thấy một điều vượt xa cú sốc dầu mỏ theo chu kỳ thông thường. Thị trường đang nhận ra khuôn khổ chi phối dòng chảy dầu thô toàn cầu trong nhiều thập kỷ đã dần suy yếu.
00:00
00:00

Tính toán của UAE

Biểu tượng OPEC tại trụ sở của tổ chức này ở Vienna, Áo. Ảnh: THX/TTXVN

Theo đài RT (Nga) ngày 6/5, động thái của Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) đã làm dấy lên các tranh luận quen thuộc về hạn ngạch, công suất dự phòng và cạnh tranh trong khu vực vùng Vịnh. Nếu chỉ nhìn vào các quy tắc nội bộ của OPEC thì sẽ không hiểu được vấn đề lớn hơn đang diễn ra trong hệ thống dầu mỏ toàn cầu. Từ trước tới nay, có một giả định rằng các nhà sản xuất có thể quản lý nguồn cung trong khi những bên khác đảm bảo tuyến hàng hải ổn định. Tuy nhiên, sự rạn nứt của OPEC cho thấy điều này vốn luôn mong manh và kỷ nguyên đó đã kết thúc.

Trong phần lớn lịch sử của mình, OPEC vận hành trong một hệ thống có thể dự đoán. Dầu mỏ di chuyển qua một số điểm trọng yếu, trong đó eo biển Hormuz là quan trọng nhất, và OPEC điều chỉnh sản lượng để tác động giá. Hiện nay, thị trường định giá rủi ro địa chính trị song song với cung và cầu. Thị trường đang tính đến chi phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh, sắp xếp lại tuyến đường chở dầu do trừng phạt và khả năng các tuyến trung chuyển quan trọng có thể bị gián đoạn kéo dài.

Các nhà máy lọc dầu châu Á đang phải tính toán lại chi phí vận tải khi đi vòng qua Biển Đỏ kéo dài hành trình và làm tăng chi phí bảo hiểm. Trong khi đó, các nhà sản xuất đang thích ứng với một thị trường mà tuyến vận chuyển ổn định không còn có thể được coi là điều hiển nhiên.

Bối cảnh rộng hơn này giúp giải thích logic chiến lược phía sau quyết định của UAE. Nước này đã đầu tư mạnh để nâng công suất sản xuất lên 5 triệu thùng/ngày vào năm 2027 từ mức hiện tại 4,85 triệu thùng/ngày, trong khi các thỏa thuận OPEC+ lại hạn chế sản lượng thực tế thấp hơn đáng kể so với ngưỡng này.

Tiếp tục xây dựng hạ tầng thượng nguồn trong khi vẫn bị ràng buộc bởi kỷ luật hạn ngạch tập thể tạo ra một mâu thuẫn thương mại và chiến lược ngày càng lớn. Việc UAE rời khỏi OPEC phản ánh động thái điều chỉnh rộng hơn. Các nhà sản xuất như UAE (nhà sản xuất lớn thứ tư trong OPEC+) dường như đang tập trung nhiều hơn vào tính linh hoạt trong sản xuất và tiếp cận thị trường châu Á thay vì duy trì các cấu trúc hạn ngạch cũ.

Cũng có một chuyển dịch song song ở phía cầu đang định hình tính toán của các nhà sản xuất. Các nhà nhập khẩu lớn ở châu Á, đặc biệt là Ấn Độ, đang chủ động tìm kiếm các mối quan hệ cung ứng linh hoạt hơn, hoạt động ngoài cấu trúc OPEC truyền thống. Các quan chức Ấn Độ đã phát tín hiệu quan tâm đến việc đàm phán các thỏa thuận dầu mỏ dài hạn với UAE khi nước này không còn bị ràng buộc bởi hạn ngạch sản lượng của OPEC.

Lợi ích là rõ ràng. Gần về địa lý giúp giảm chi phí vận tải, các thỏa thuận song phương cho phép linh hoạt giá cả và các cơ chế trực tiếp tránh được những ràng buộc có thể phát sinh từ liên minh dầu mỏ.

Đối với UAE, điều này không chỉ đơn thuần là rời khỏi OPEC. Điều này cho thấy họ tái định vị trong một bối cảnh năng lượng mà việc đảm bảo nhu cầu dài hạn từ châu Á thông qua các thỏa thuận xuất khẩu linh hoạt có thể quan trọng hơn việc duy trì hình thức kỷ luật tập thể.

OPEC cố gắng cắt giảm phối hợp sản lượng để hỗ trợ giá dầu trong khi các tuyến vận chuyển dầu đó ngày càng kém ổn định. Hạn ngạch sản xuất không có ý nghĩa nếu tàu chở dầu không thể di chuyển tự do.

Từ hạn ngạch OPEC đến phong tỏa hải quân

Trụ sở OPEC tại Vienna, Áo. Ảnh: THX/TTXVN

Khung OPEC cũ được xây dựng cho thời kỳ mà tình trạng dư cung và sụp đổ giá là mối lo chính. Các mối đe dọa mà thị trường dầu mỏ đang đối mặt hiện nay hoàn toàn khác. Địa chính trị đã thay đổi cách dầu mỏ lưu chuyển. Từng là nơi vận chuyển khoảng 20 triệu thùng/ngày trước khi Iran đóng cửa vào tháng 3, eo biển Hormuz đang xảy ra cuộc khủng hoảng mà Cơ quan Năng lượng Quốc tế gọi là gián đoạn nguồn cung dầu lớn nhất trong lịch sử.

Các cuộc khủng hoảng trước đây dựa trên giả định rằng gián đoạn sẽ ngắn hạn và dòng dầu sẽ quay lại bình thường. Giả định đó không còn đúng. Nhận thức rủi ro đã tái định hình chi phí vận tải, lịch giao hàng và hành vi thị trường. Không cần phong tỏa hoàn toàn thì thị trường vẫn phản ứng. Đây là lý do dầu Brent chạm 120 USD/thùng. Giá phản ánh tâm lý nghi ngờ về tuyến trung chuyển, không chỉ về nguồn cung.

Trong bối cảnh này, sự khác biệt bên trong OPEC+ trở nên dễ hiểu hơn. Việc UAE rời đi cho thấy khoảng cách ngày càng lớn giữa kỷ luật tập thể và chiến lược quốc gia. Saudi Arabia vẫn giữ vai trò trụ cột, thường chấp nhận cắt giảm sâu hơn để hỗ trợ giá. Nhưng không phải mọi nhà sản xuất đều hoạt động trên cùng một lộ trình. Với UAE, việc đảm bảo thị phần tương lai tại châu Á quan trọng hơn bảo vệ một cơ chế phối hợp vốn dành cho bối cảnh khác.

Iran nhìn nhận tình hình theo cách khác. Nước này từ lâu coi an ninh năng lượng là cuộc cạnh tranh về khả năng tiếp cận, gây áp lực và kiểm soát tuyến vận chuyển. Gia tăng quân sự hóa và trừng phạt đã biến thương mại dầu mỏ thành một cuộc đấu tranh địa chính trị. Việc UAE rời OPEC xác nhận rằng các nhà sản xuất đang đi theo những hướng riêng trong một hệ thống phân mảnh.

OPEC không sụp đổ. Tổ chức này vẫn có ảnh hưởng, chủ yếu thông qua công suất dự phòng của Saudi Arabia. Nhưng những giả định từng giữ tổ chức này (vận chuyển ổn định, lợi ích đồng nhất, quản lý tập trung) đang bị xói mòn.

Hình thành các mạng năng lượng song song

Nhà máy lọc dầu ở Dammam, Saudi Arabia. Ảnh: THX/TTXVN

Dầu thô của Nga đã được chuyển hướng sang các thị trường châu Á sau các lệnh trừng phạt do phương Tây áp đặt. Điều này đã tái định hình tuyến vận tải tàu chở dầu và thay đổi biên lợi nhuận cũng như cơ chế thanh toán. Trừng phạt không làm sụt giảm nguồn cung của các nhà sản xuất bị nhắm tới, mà thay vào đó đẩy nhanh quá trình đa dạng hóa các kênh thương mại.

Mỹ hiện tìm cách đóng vai trò kép: vừa là nhà cung cấp an ninh tại các khu vực hàng hải trọng yếu, vừa là nhà cung cấp dầu đá phiến và LNG. Tăng trưởng sản lượng ngoài OPEC đang dần làm xói mòn sự thống trị của các cấu trúc năng lượng tập trung cũ.

Đối với các nhà nhập khẩu châu Á, sự chuyển dịch này vừa mang tính mở rộng lựa chọn vừa mang tính bất ổn. Nguồn LNG linh hoạt, đa dạng hóa nguồn dầu thô và các tuyến thương mại mới đã giảm phụ thuộc vào một nhà cung cấp duy nhất. Nhưng chúng cũng khiến an ninh năng lượng gắn chặt hơn với địa chính trị, logistics và hạ tầng tài chính.

Các bên tham gia thị trường nhận ra sự chuyển đổi này. Các nhà quan sát ngành cho rằng hệ thống có thể chịu được các cú sốc như việc UAE rời OPEC mà không gián đoạn ngay lập tức. Nhưng sự bình ổn đó phản ánh khả năng thích ứng, không phải sự ổn định cũ. Phân tích gần đây cho thấy các mạng cung ứng và an ninh chồng lấn hiện được định hình nhiều bởi liên kết chính trị hơn là hiệu quả thị trường. Hệ thống dầu mỏ toàn cầu không còn xoay quanh một trung tâm duy nhất mà đang phân mảnh thành nhiều vòng liên kết nhưng tách biệt.

Sự trỗi dậy của châu Á và cạnh tranh mới về tầm quan trọng năng lượng

Nhu cầu đang dịch chuyển rõ rệt về phía Đông. Ấn Độ dự kiến bổ sung 1 triệu thùng/ngày vào năm 2030. Đây là mức tăng lớn nhất thế giới và chiếm gần một nửa tăng trưởng nhu cầu dầu toàn cầu đến năm 2035. Sự dịch chuyển này đang tái định hình chiến lược của các nhà sản xuất. Các nước xuất khẩu vùng Vịnh không còn chỉ bảo vệ mức giá. Họ đang cạnh tranh để duy trì vai trò dài hạn tại các thị trường châu Á, nơi thương mại vùng Vịnh - châu Á đạt 516 tỷ USD năm 2024, gấp đôi mức 256 tỷ USD thương mại vùng Vịnh - phương Tây.

Việc UAE rời OPEC phản ánh tính toán này. Thay vì rời bỏ thị trường toàn cầu, nước này đang tái định vị theo hướng linh hoạt, các thỏa thuận song phương và tiếp cận trực tiếp các trung tâm tăng trưởng châu Á.

Đối với các nền kinh tế châu Á, hệ quả phức tạp hơn. Đa dạng hóa giữa vùng Vịnh, Nga, Mỹ và châu Phi giúp tăng quyền mặc cả nhưng đồng thời đưa họ vào một hệ thống phân mảnh và nhạy cảm chính trị hơn. An ninh năng lượng giờ không chỉ là đảm bảo nguồn cung mà còn đòi hỏi tuyến vận chuyển an toàn hơn, khung bảo hiểm, hệ thống lọc dầu và dự trữ chiến lược. Khi bất kỳ yếu tố nào trong số này thất bại, tác động kinh tế vượt xa chi phí năng lượng.

Các phản ứng chính sách đang thay đổi tương ứng. Dự trữ chiến lược, mở rộng nhà máy lọc dầu, tăng năng lượng tái tạo và điện hạt nhân ngày càng được xem là một phần của khuôn khổ chống chịu rộng hơn. An ninh hàng hải cũng trở nên quan trọng, khi eo biển Hormuz được xác định là trọng tâm chiến lược.

Thùy Dương/Báo Tin tức và Dân tộc

TIN LIÊN QUAN
































Home Icon VỀ TRANG CHỦ