Khơi thông nguồn lực thúc đẩy công nghệ chiến lược

Sản xuất AI Camera của MK Vision tại Khu công nghiệp Thăng Long Vĩnh Phúc, Bình Xuyên, tỉnh Phú Thọ.
Nghị quyết số 57-NQ/TW đang tạo động lực thúc đẩy phát triển các công nghệ chiến lược, với nhiều lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), robot, thiết bị bay không người lái (UAV) hay công nghệ sinh học đã sẵn sàng bước vào giai đoạn ứng dụng. Song để tạo đột phá, Việt Nam vẫn cần khơi thông các nút thắt về thể chế, hạ tầng tính toán, nguồn lực và liên kết giữa Nhà nước, viện/ trường và doanh nghiệp.
Từ định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiều chương trình, dự án nghiên cứu, phát triển công nghệ đã được triển khai đồng bộ tại các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, từng bước hiện thực hóa mục tiêu làm chủ các công nghệ chiến lược.
Theo Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương, đến nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tiếp nhận 28 đề xuất của các bộ, ngành về triển khai ứng dụng và phát triển công nghệ chiến lược. Qua rà soát bước đầu, nhiều công nghệ như AI Camera, robot di động tự hành, UAV, nền tảng giáo dục thông minh cùng một số sản phẩm vaccine, sinh phẩm và công nghệ sinh học được đánh giá có mức độ sẵn sàng cao, kỳ vọng tạo đột phá và mang lại kết quả bước đầu ngay trong năm 2026.
Đây đều là những lĩnh vực Việt Nam đã có nền tảng nghiên cứu hoặc sản phẩm thử nghiệm, sẵn sàng tham gia giải quyết các bài toán quản lý đô thị, giao thông, an ninh, nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, logistics, y tế và giáo dục.
Nhiều doanh nghiệp cũng đang chủ động đầu tư để làm chủ các công nghệ chiến lược. Tập đoàn Vingroup đã xây dựng bộ dữ liệu tiếng Việt quy mô hơn 350 tỷ token, phát triển các mô hình ngôn ngữ lớn có quy mô tới 420 tỷ tham số và từng bước hình thành hệ sinh thái ứng dụng AI trong toàn Tập đoàn.
Tương tự, Tập đoàn Phenikaa lựa chọn tập trung phát triển năm nhóm công nghệ lõi gồm bán dẫn, công nghệ tự hành, y sinh phục vụ y học chính xác, vật liệu tiên tiến và tích trữ năng lượng. Đây đều là những lĩnh vực ưu tiên mà Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định là công nghệ chiến lược quốc gia.
Đáng chú ý, mỗi hướng nghiên cứu đều gắn với các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc, từ giáo dục, việc làm, hạ tầng công nghiệp đến y tế và năng lượng sạch. Cách tiếp cận này cho thấy mục tiêu là làm chủ công nghệ và đưa công nghệ trở thành giải pháp cho những bài toán phát triển của đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Dù đã đạt những kết quả nhất định tuy nhiên, việc triển khai công nghệ chiến lược hiện đối mặt với nhiều vướng mắc: Khung pháp lý chưa đồng bộ, thiếu hụt nguồn nhân lực, hạ tầng nghiên cứu rời rạc, thiếu kết nối giữa viện, trường và doanh nghiệp…
Phát biểu ý kiến tại hội nghị toàn quốc sơ kết một năm sáu tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ông Lưu Anh Tuấn, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần VinSmart Future cho biết: Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc các mô hình AI nước ngoài, dẫn đến chi phí cao, phụ thuộc công nghệ và tiềm ẩn rủi ro về dữ liệu. Bên cạnh đó, hạ tầng tính toán đang là nút thắt lớn khi chi phí đầu tư việc mua sắm hoặc góp vốn vào các bộ xử lý đồ họa (GPU) vượt quá khả năng của nhiều doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu.
Theo ông, trong cuộc đua AI hiện nay, rào cản lớn nhất không còn nằm ở thuật toán mà là thể chế và hạ tầng.
Để tháo gỡ các điểm nghẽn này, ông Tuấn đề xuất Chính phủ xây dựng chương trình AI quốc gia với trọng tâm phát triển các mô hình AI nền tảng như mô hình ngôn ngữ lớn, mô hình đa phương thức, AI cho robot, sản xuất thông minh và các lĩnh vực chiến lược.
Cùng với đó, cần đầu tư hạ tầng tính toán AI quốc gia theo mô hình dùng chung, tương tự hạ tầng điện toán đám mây, giúp các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp tiếp cận năng lực tính toán với chi phí hợp lý; hoàn thiện thể chế để tạo môi trường thuận lợi cho phát triển AI, như xây dựng cơ chế AI Sandbox đối với các công nghệ mới...
Trước yêu cầu hiện thực hóa các mục tiêu phát triển công nghệ chiến lược, ông Phương cho rằng, đây là nhiệm vụ hoàn toàn mới, có độ phức tạp cao và mang tính liên ngành, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành, cơ quan ngang bộ và địa phương. Theo ông, đối với những lĩnh vực có độ phức tạp lớn như công nghệ vệ tinh, đường sắt tốc độ cao hay công nghệ khai thác, chế biến đất hiếm, việc nghiên cứu và phát triển cần được triển khai bài bản, theo lộ trình rõ ràng đến năm 2026 và tầm nhìn đến 2030.
Thời gian tới, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ huy động nguồn lực để rà soát, thẩm định toàn bộ các đề xuất, bài toán công nghệ chiến lược, qua đó lựa chọn những nhiệm vụ trọng tâm để tập trung đầu tư.
Để tạo thêm động lực cho quá trình này, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đề xuất tham mưu Chính phủ sớm triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với hoạt động đặt hàng, mua sắm sản phẩm công nghệ chiến lược và quỹ đầu tư mạo hiểm. Trọng tâm là mở rộng phạm vi áp dụng các cơ chế đặc thù như đặt hàng nghiên cứu, khoán chi theo kết quả, mua sắm lô sản phẩm công nghệ chiến lược đầu tiên do doanh nghiệp trong nước phát triển và đầu tư mạo hiểm có vốn nhà nước.
Bài và ảnh: BÍCH LIÊN
6 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
3 giờ trước
7 phút trước
1 giờ trước
2 phút trước
4 phút trước
25 phút trước
39 phút trước
59 phút trước