Khoảng 7% ung thư buồng trứng có tính chất gia đình
Theo số liệu từ GLOBOCAN, trong năm 2022 Việt Nam ghi nhận khoảng 1.500 ca mắc mới và khoảng 1.000 ca tử vong do ung thư buồng trứng.
Đây là những thông tin được các chuyên gia đưa ra tại hội thảo khoa học "Củng cố bằng chứng sống còn trong điều trị ung thư buồng trứng tiến triển: Vai trò của thuốc ức chế PARP từ dữ liệu đến thực tế" do Bệnh viện K phối hợp với AstraZeneca Việt Nam tổ chức nhằm hưởng ứng Ngày ung thư buồng trứng thế giới - 8/5 hàng năm.
Hội thảo quy tụ các chuyên gia hàng đầu về ung bướu trên cả nước tham gia trực tiếp tại các điểm chính như Bệnh viện K, Bệnh viện Ung bướu Nghệ An, Bệnh viện Ung bướu Bắc Ninh và các điểm cầu tham gia trực tuyến.

Hội thảo quy tụ các chuyên gia hàng đầu về ung bướu trên cả nước thông qua hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Hội thảo tập trung vào các cập nhật trong chẩn đoán và điều trị ung thư buồng trứng, đặc biệt là các chiến lược điều trị cá thể hóa và điều trị duy trì nhằm cải thiện kết quả lâu dài cho người bệnh. Bên cạnh đó, thông qua các phiên trao đổi ca lâm sàng, các chuyên gia đã cùng thảo luận về các tình huống điều trị thực tế và kinh nghiệm thực hành trong quản lý người bệnh tại Việt Nam.
Phụ nữ có mẹ và chị em gái mắc ung thư buồng trứng có nguy cơ mắc tăng gấp 20 lần cộng đồng
Thông tin tại hội thảo cho thấy nguyên nhân của bệnh vẫn chưa được rõ ràng. Rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu mối liên quan giữa bệnh và các yếu tố môi trường, chế độ ăn, sinh sản, nội tiết, virus và di truyền, trong đó yếu tố gia đình đã được xác nhận, khoảng 7% ung thư buồng trứng mang tính chất gia đình. Những phụ nữ có mẹ và chị em gái mắc bệnh này có nguy cơ mắc tăng gấp 20 lần cộng đồng.
Tiền sử gia đình (chủ yếu là ở người bệnh có từ 2 người thân trực hệ bị ung thư buồng trứng) liên quan tới gen BRCA1 và BRCA2 (hội chứng ung thư vú và buồng trứng di truyền [HBOC]). Người bệnh ung thư buồng trứng có đột biến BRCA1/2 chiếm khoảng 15% (dao động từ 7%–21%) tổng số người bệnh ung thư buồng trứng.
Tuổi cao cũng là một yếu tố nguy cơ vì tỷ lệ mắc ung thư biểu mô buồng trứng tăng dần theo số lần rụng trứng. Những người có thai trước 25 tuổi, mãn kinh sớm cũng liên quan đến giảm tỷ lệ mắc ung thư buồng trứng.
BSCKII. Võ Thanh Nhân – Trưởng khoa Ung Bướu Phụ Khoa, Bệnh viện Từ Dũ chia sẻ, một trong những thách thức lớn nhất của ung thư buồng trứng là bệnh thường diễn tiến âm thầm với các triệu chứng ban đầu không đặc hiệu, dễ bị nhầm lẫn với các rối loạn tiêu hóa thông thường. Điều này khiến nhiều bệnh nhân chỉ được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn tiến triển.
"Vì vậy, việc nâng cao nhận thức về các dấu hiệu cảnh báo và chủ động thăm khám sớm đóng vai trò rất quan trọng trong việc cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân"- BS Nhân nói
Tỷ lệ sống sau 5 năm của bệnh nhân ung thư buồng trứng phát hiện sớm lên đến 90%, muộn chỉ còn 30,2%
Theo các số liệu dịch tễ học, tỷ lệ sống còn sau 5 năm của người bệnh ung thư buồng trứng phụ thuộc nhiều vào giai đoạn phát hiện, với khoảng 90,5% ở giai đoạn sớm nhưng giảm xuống còn 30,2% ở giai đoạn muộn.
Nếu không áp dụng điều trị duy trì, hơn 50% người bệnh ung thư buồng trứng tiến triển có đặc điểm HRD (thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng) dương tính có thể tái phát trong vòng 1 năm, với thời gian tái phát trung bình khoảng 10,2 tháng.

PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền – Trưởng khoa Nội Vú – Phụ khoa 2, Bệnh viện K chia sẻ về những thách thức trong chẩn đoán ung thư buồng trứng tại hội thảo.
Tuy nhiên, hiện nay chỉ có dưới 40% người bệnh được xét nghiệm HRD toàn diện (theo nghiên cứu đời thực tại Mỹ), trong khi việc xác định dấu ấn sinh học của khối u đóng vai trò then chốt trong việc lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp và tối ưu hóa kết quả lâu dài.
Trong bối cảnh đó, những tiến bộ trong hơn hai thập kỷ qua, từ việc thiết lập nền tảng hóa trị chuẩn đến sự phát triển của các liệu pháp nhắm trúng đích sinh học phân tử đặc hiệu với chiến lược điều trị duy trì sau đáp ứng ban đầu, đang từng bước định hình lại tiêu chuẩn điều trị mới. Những tiến bộ này giúp kéo dài thời gian sống không tiến triển bệnh nhiều năm, hướng tới mục tiêu kiểm soát bệnh lâu dài thay vì chỉ điều trị ngắn hạn.
Tại hội thảo, PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền – Trưởng khoa Nội Vú – Phụ khoa 2, Bệnh viện K chia sẻ: "Phần lớn bệnh nhân ung thư buồng trứng được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển, điều này đặt ra thách thức lớn trong việc cải thiện kết quả điều trị lâu dài. Vì vậy, bên cạnh điều trị ban đầu, việc xây dựng các chiến lược kiểm soát bệnh bền vững, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thực hành lâm sàng."
Thái Bình
5 giờ trước
2 giờ trước
16 phút trước
1 phút trước
3 phút trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước