🔍
Chuyên mục: Thời sự

Khát vọng Việt Nam từ hành trình Đổi mới - Bài 1: Con đường tất yếu

4 giờ trước
Bao cấp - cơ chế hiệu quả trong kháng chiến nhưng lại thành rào cản của đất nước sau ngày Thống nhất. Đói nghèo, quan liêu, trì trệ bao trùm đời sống xã hội. Trước sự lựa chọn sinh tử, Đại hội VI năm 1986 của Đảng đã dũng cảm khởi xướng công cuộc Đổi mới. 40 năm nhìn lại, đất nước không chỉ thoát khỏi khủng hoảng mà còn vươn lên mạnh mẽ, đời sống nhân dân ngày càng ấm no, vị thế quốc tế chưa từng có.

Đầu năm 2026, khi Đại hội XIV của Đảng diễn ra với nhiều quyết sách chiến lược cho tương lai, thì giá trị nền tảng, sức sống của Đổi mới lại càng rõ rệt, thành điểm tựa để hướng niềm tin vào một Việt Nam hùng cường năm 2045.

Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đã hoạch định đường lối Đổi mới và mở đầu quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc Đổi mới ở Việt Nam, bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, khơi dậy và phát huy sức mạnh, tiềm năng để đưa đất nước tiến lên. Ảnh: TTXVN

Bài 1: Con đường tất yếu

Khủng hoảng kinh tế xã hội chồng chất. Không thể tiếp tục cách làm cũ. Nhưng thay đổi thế nào, đi theo con đường nào, lại là một cuộc đấu tranh tư tưởng không hề đơn giản. Từ đòi hỏi bức thiết của nhân dân, sức ép của thực tiễn và quyết tâm chính trị của Đảng, năm 1986, công cuộc Đổi mới được khởi xướng, mở ra bước ngoặt lịch sử cho vận mệnh dân tộc.

Tại Đại hội VI của Đảng, trong bài phát biểu sau khi được bầu làm Tổng Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Linh nhấn mạnh, Đại hội lần này đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình kế thừa và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng. Ông cũng thể hiện quyết tâm: "Không một trở lực nào có thể ngăn cản bước tiến của chúng ta về phía trước". Ảnh: TTXVN

Ước mơ nhỏ bé

Chế độ tem phiếu vẫn được duy trì trong những năm sau giải phóng. Ảnh: TTXVN phát

Những năm đầu thập niên 1980, đất nước đã thống nhất nhưng hòa bình chưa đủ đầy, đời sống người dân vô cùng thiếu thốn. Tem phiếu trở thành vật bất ly thân. Gạo, dầu, vải vóc, xà phòng… đều phải xếp hàng, chắt chiu từng chút. Ước mơ của nhiều gia đình khi ấy giản dị đến thắt lòng: có bữa cơm đủ no, có mái nhà không dột mỗi mùa mưa và ngọn đèn đủ sáng để con trẻ học bài buổi tối.

Hà Nội và nhiều thành phố lớn triền miên cảnh thiếu điện, thiếu nước, thiếu lương thực. Sự thiếu hụt hàng hóa khiến tiền nhiều hơn của, đẩy giá cả leo thang và ảnh hưởng nặng nề đến đời sống người dân. Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Đặng Quân Thụy, khi đó là Tư lệnh Binh chủng Hóa học, sống trong ngôi nhà ở phố Trần Phú, Hà Nội, cũng không nằm ngoài vòng xoáy khủng hoảng ấy. Hồi tưởng những bữa cơm đang ăn thì mưa tạt, cả nhà lại leo lên mái chống dột, con cái trong nhà cũng xếp hàng mua lương thực, dầu thắp như bao gia đình khác, ông nói: “Đất nước thống nhất đã mấy năm mà ngày vui chẳng tày gang”.

Đô thị lớn kham khổ thì vùng nông thôn cũng trong tình trạng sản xuất trì trệ. Lối làm ăn theo tư duy quan liêu bao cấp kéo dài, năng suất thấp, động lực lao động bị triệt tiêu. Hậu quả chiến tranh để lại nặng nề, trong khi đất nước lại phải căng mình bảo vệ biên giới Tây Nam từ năm 1979 và đối đầu căng thẳng kéo dài gần một thập kỷ ở biên giới phía Bắc. “Thóc thì thiếu mà người lại phải căng ra hai đầu trận tuyến. Chúng ta lại còn phải dành dụm để chi viện cho Lào và Campuchia. Khó khăn chồng chất!”, ông Phùng Huy Thịnh (sinh năm 1953), nguyên cán bộ Cục Chính trị Quân đoàn 2, nhớ lại.

Ông Phùng Huy Thịnh, nguyên cán bộ Cục Chính trị, Quân đoàn 2 kể về thời gian khó của đất nước trước Đổi mới. Ảnh: Việt Đức/TTXVN

Trong ký ức của ông Thịnh, gia đình ở Gia Lâm, Hà Nội làm nghề nông, sáu anh chị em trong nhà “ăn chưa bao giờ no”. Bấy giờ, ông là quân nhân mang quân hàm chuẩn úy chuyển ngành ra dân sự, lương chỉ có 54 đồng mỗi tháng nhưng phải chắt chiu số tiền ít ỏi đó cùng gia đình nuôi các em. “Vải vóc khan hiếm đến mức cả năm chỉ được bốn mét, tôi phải mặc lại bộ quân phục cũ suốt những năm học đại học”, ông Phùng Huy Thịnh nhớ lại.

Tình hình kinh tế - xã hội những năm 1981 -1985 ảm đạm như bức tranh phủ gam màu xám. Báo cáo của Tổng cục Thống kê cho thấy, năm 1986 lạm phát “siêu cao”, tới 774,7%. Đồng lương cán bộ, công nhân viên gần như không đủ trang trải sinh hoạt. Sự quản lý, làm ăn theo cung cách quan liêu, trì trệ ăn sâu vào bộ máy. Cơ chế bao cấp từng phát huy hiệu quả trong kháng chiến thì nay trở thành rào cản lớn của phát triển.

Ngay cả những người làm công việc đối ngoại - thể diện của quốc gia, cũng sống trong cảnh thiếu thốn. Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên nhớ lại, những chuyến công tác nước ngoài khi ấy, cán bộ ngoại giao phải mượn quần áo từ kho của Bộ Tài chính. Mượn từ cái áo vest, áo sơ mi đến cả áo may ô, đôi tất.

Theo quy định, cán bộ ngoại giao đi công tác Liên hợp quốc thì công tác phí chỉ được 25 cent/ngày, còn Bộ trưởng là 60 cent. Ở New York, đoàn phải tận dụng phòng làm việc chật hẹp của cơ quan đại diện, hai người nằm chung một giường nhỏ để tiết kiệm chi phí. “Đoàn công tác của ta ra nước ngoài không dám đi đông, chỉ rất ít người và mỗi người thì phải tự túc làm rất nhiều việc. Bề ngoài là comple, cà vạt, nhưng thực tế kham khổ vô cùng”, ông Nguyễn Dy Niên bồi hồi.

Đổi mới hay là chết

Không thể tiếp tục cách làm quan liêu, bao cấp cũ. Nhưng thay đổi thế nào, đi theo con đường nào, lại là một cuộc đấu tranh tư tưởng không hề đơn giản. Trong nội bộ Đảng, những tranh luận gay gắt diễn ra. Tư duy kế hoạch hóa tập trung vẫn chi phối mạnh. Nhiều ý kiến coi kinh tế thị trường là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, lo ngại “chệch hướng” xã hội chủ nghĩa. Sự giằng xé giữa cái cũ và cái mới, giữa nỗi sợ rủi ro và yêu cầu sống còn của thực tiễn tạo ra áp lực nặng nề cho những người hoạch định đường lối.

Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN. Ảnh: Việt Đức/TTXVN

Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên nhớ như in những cuộc tranh luận ấy. Giữa khát vọng dám đi tới là không ít sự e dè, bảo thủ. Nhưng chính khủng hoảng đã buộc chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật. Những mâu thuẫn của cơ chế bao cấp đã bộc lộ rõ đến mức không thể che giấu. Yêu cầu “đổi mới hay là chết” không còn là khẩu hiệu, mà là mệnh lệnh từ cuộc sống.

Và Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã trở thành bước ngoặt lịch sử. Đảng ta đã dũng cảm thừa nhận những yếu kém, sai lầm trong quản lý kinh tế, quyết tâm “cởi trói” cho tư duy, chuyển từ cơ chế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khai thác mọi nguồn lực xã hội để phát triển đất nước. Nối sau đó là những chính sách quan trọng về giá cả, lương bổng, tiền tệ, tài chính và pháp lý.

Sự dũng cảm trong đổi mới tư duy, thoát khỏi lối mòn kế hoạch hóa nhanh chóng đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ. GDP tăng 4,4%, nông nghiệp tăng 4%, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 28% mỗi năm. Từ chỗ thiếu ăn triền miên, Việt Nam vươn lên trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu về gạo, cà phê, thủy sản. Niềm tin dần trở lại trong đời sống xã hội.

Suốt hai thập niên sau đó, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng 7 - 8% mỗi năm, ngay cả khi đối mặt với khủng hoảng tài chính khu vực và thiên tai liên tiếp. Đó là giai đoạn đặt nền móng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở ra không gian phát triển mới cho đất nước.

Trung tướng Đặng Quân Thụy, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội chia sẻ về ký ức những ngày tham gia Cách mạng Tháng Tám 1945. Ảnh: Việt Đức/TTXVN

“Bây giờ thì càng nhìn thấy sự đúng đắn của quyết định Đổi mới. Đây chính là bước ngoặt lịch sử mở lối thoát cho dân tộc”, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Đặng Quân Thụy khẳng định.

Những thành tựu ấy được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Liên hợp quốc đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia hoàn thành sớm nhiều Mục tiêu Thiên niên kỷ, đặc biệt về giảm nghèo, giáo dục và y tế, coi Việt Nam là “hình mẫu về giảm nghèo bền vững”.

Nhiều nhà nghiên cứu quốc tế cũng gọi đây là “thời khắc bước ngoặt”. Giáo sư V.G. Kolotov, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam- ASEAN, Đại học Quốc gia St. Petersburg (Nga) đánh giá: Việt Nam hôm nay là minh chứng sống động cho sức mạnh của Đổi mới. Tương lai đất nước phụ thuộc vào việc các thế hệ tiếp tục kế thừa tinh thần ấy, để khát vọng hùng cường trở thành hiện thực”./.(Còn tiếp)

Bài 2: Kiến tạo lòng tin

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, có ý nghĩa định hướng chiến lược đối với sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Các thông tin chính thống, đầy đủ và cập nhật về Đại hội được đăng tải tại trang thông tin điện tử Đại hội Đảng: https://daihoidang.vn

Hạnh Quỳnh - Nguyễn Cúc - Việt Đức - Trương Diệp (TTXVN)

TIN LIÊN QUAN






















Home Icon VỀ TRANG CHỦ