🔍
Chuyên mục: Thời sự

Khát vọng trường tồn và hạnh phúc

1 giờ trước
Ngày 20-3 hằng năm được Liên hợp quốc chọn là 'Ngày Quốc tế Hạnh phúc' nhằm nhắc nhở nhân loại hãy chung tay vun trồng cuộc sống hạnh phúc cho mọi người.

Đến nay đã có 193 thành viên của Liên hợp quốc hưởng ứng tham gia “Ngày Quốc tế Hạnh phúc”, qua đó càng chứng minh khát vọng hạnh phúc cho con người là một giá trị bao trùm, vượt mọi khác biệt biên giới, thể chế chính trị.

Đảng - Tổ quốc - Nhân dân là ba giá trị trụ cột làm nên hệ giá trị hạnh phúc trong kỷ nguyên mới. Ảnh: Internet

1. “Ngày Quốc tế Hạnh phúc” nhận được sự đồng thuận rộng rãi trong cộng đồng quốc tế bởi nó khích lệ tinh thần phấn đấu của các quốc gia, thúc đẩy sự cân bằng, phát triển bền vững toàn cầu. Sự thay đổi nhận thức về quan niệm hạnh phúc nhân loại được chuyển từ việc nâng cao đời sống vật chất dồi dào sang nâng cao đời sống tinh thần phong phú, bảo đảm sự hài hòa giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên, giữa mỗi quốc gia với toàn cầu; tất cả đều phải xoay quanh trục phát triển vì sự tiến bộ, văn minh, công bằng.

Thực tế thì thông điệp “hạnh phúc” đã được nêu trong “Tuyên ngôn độc lập” của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ năm 1776: “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Tuy nhiên, thông điệp tưởng như tích cực trên lại bị méo mó khi đi vào thực tế, bởi giai cấp tư sản Âu - Mỹ đã tự phản bội, khoác áo “dân chủ”, đem danh nghĩa “khai hóa văn minh” để áp bức nô dịch, đẩy người dân các thuộc địa trên thế giới vào tình cảnh thống khổ, bất bình đẳng.

Thập niên thứ 2 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc từng phát biểu: Thế giới có 2 loại người, những người bị áp bức thống trị thì ở đâu cũng thống khổ như nhau, những kẻ thống trị thì ở đâu cũng tàn bạo như nhau. Từ nhận thức chân lý lịch sử như vậy, Người đã truyền tư tưởng cứu nước cứu dân đúng đắn vào Việt Nam và lan tỏa trong nhân loại cần lao. Đó là tiền đề cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên phạm vi toàn cầu. Việt Nam trở thành biểu tượng của tinh thần tiên phong đấu tranh vì độc lập, tự do, hạnh phúc, thắp sáng ngọn đuốc soi đường xu hướng thời đại “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”.

Trong “Tuyên ngôn độc lập” (ngày 2-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đồng bào tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Tuyên ngôn bất hủ ấy đã xác định một địa danh mới trên bản đồ thế giới về một dân tộc khát vọng trường tồn, độc lập, tự do, hạnh phúc, đóng góp vào sự tiến bộ, văn minh, bình đẳng, bình quyền, hạnh phúc của nhân loại.

2. Nhìn lại lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, mỗi người Việt Nam yêu nước hoàn toàn có quyền tự hào vì dân tộc mình sớm ý thức có trách nhiệm đối với hạnh phúc của muôn dân. Truyền thuyết “Bọc trứng Âu Cơ” là ý tưởng giàu tính nhân bản, nhân văn về sự bình đẳng, bình quyền giữa con người với con người trong một quốc gia, dân tộc. Lãnh thổ chỉ là một quy ước phạm vi sinh tồn của một cộng đồng người có sự tương đồng tư tưởng, phương thức sản xuất, lối sống, phong tục, tập quán. Một nước giàu mạnh là phải “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nhân dân giúp đỡ”; là vua phải biết “khoan thư sức dân làm kế rễ sâu gốc bền”; vua phải biết chăm lo cho dân, đó là “gốc của lễ nhạc”, là gốc của thái bình.

Mỗi giai đoạn lịch sử đều có những yêu cầu mang tính thời đại, dưới thời phong kiến thì phải “trung quân ái quốc”, dưới thời dân chủ nhân dân thì phải “yêu Tổ quốc, yêu đồng bào”. Dưới thời thực dân phát xít, người dân yêu nước đã sớm ý thức chỉ có đi theo Việt Minh thì mới thoát khỏi kiếp đời nô lệ. Sau khi giành được độc lập, người Việt Nam yêu nước càng thấu hiểu rằng chỉ có đi theo Đảng, Bác Hồ mới có được độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, hạnh phúc con người đã thoát khỏi “tà áo hẹp”, rộng mở bao dung tất cả cuộc đời chung. Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi mới thành lập, đã khẳng định mục tiêu tối thượng là đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Khát vọng của Đảng là sự hiện thực hóa khát vọng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, tất cả những điều tôi hiểu!”.

Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh có “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” (ngày 17-10-1945), Người chỉ rõ: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Thông điệp đó càng khẳng định sự nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện quyền tự quyết dân tộc và quyền tự quyết con người, trong đó hạnh phúc của dân tộc là độc lập, tự chủ, làm nền tảng chính trị để thực hiện quyền tự quyết hạnh phúc cho nhân dân. Về sau, Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra chân lý cho mọi thời đại, không chỉ với Việt Nam mà với toàn nhân loại: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Ngày nay, chân lý đó là nguồn sáng soi rọi cho dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới.

3. Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam có chủ đề: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Đây là sự hoàn thiện, phát triển lý luận, đúc kết thực tiễn cách mạng Việt Nam qua 96 năm có Đảng lãnh đạo. Hạnh phúc của Nhân dân là điểm đến cuối cùng, dựa trên điều kiện tiên quyết có sự lãnh đạo của Đảng, sự chung sức đồng lòng, vào cuộc quyết liệt của Nhân dân với tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ dám làm, dám hành động để mang lại lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, đóng góp đáng kể vào văn minh nhân loại. Đảng - Tổ quốc - Nhân dân là ba trụ cột như thế kiềng ba chân vững chãi làm nên hệ giá trị hạnh phúc cho Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết số 15-NQ/TW của Bộ Chính trị giao nhiệm vụ cho Thủ đô Hà Nội: “Đẩy mạnh xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị của Thủ đô Hà Nội thực sự gương mẫu, đoàn kết, trong sạch, vững mạnh toàn diện, tiêu biểu; xây dựng đội ngũ cán bộ Hà Nội có trình độ cao, có phẩm chất đạo đức trong sáng, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ là nhân tố có ý nghĩa quyết định; xây dựng người Hà Nội hào hoa, thanh lịch, nghĩa tình, văn minh, tiêu biểu cho văn hóa, lương tri và phẩm giá con người Việt Nam”.

Theo đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Hà Nội khóa XVIII đã xác định nhân lõi phát triển Thủ đô mang tầm thế kỷ: “Phát huy truyền thống ngàn năm văn hiến và anh hùng; đoàn kết xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; tiên phong, đột phá trong kỷ nguyên mới; phát triển Thủ đô văn minh, hiện đại, hạnh phúc”.

Giá trị cốt lõi, quan trọng nhất, đắt giá nhất trong quyết tâm hành động của Đảng bộ Hà Nội sau 96 năm ra đời, xây dựng và trưởng thành chính là “hạnh phúc” bao trùm cho người dân Thủ đô, làm giá trị hội tụ và lan tỏa cho đồng bào cả nước và bạn bè năm châu.

Quan sát những chuyển động mạnh mẽ của Thủ đô Hà Nội từ sau Đại hội XIV tới nay cho thấy, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân Thủ đô đang thể hiện rõ tư thế, tư cách gương mẫu đi đầu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, kỷ nguyên phát triển hùng cường, hiện đại, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc.

Để xứng đáng với sự trao truyền của các thế hệ tiền nhân cũng như niềm tin yêu của cả nước và bạn bè quốc tế, mỗi người Hà Nội hãy đồng hành và quyết tâm hành động để Thủ đô của chúng ta xứng danh là Thành phố vì hòa bình, là Thủ đô của lương tri, phẩm giá con người, thực sự là thành phố đáng đến và đáng sống, tiêu biểu cho niềm hạnh phúc của con người.

PGS.TS Trần Viết Lưu

TIN LIÊN QUAN

































Home Icon VỀ TRANG CHỦ