🔍
Chuyên mục: CNTT - Viễn thông

Khai thác hiệu quả hạ tầng ETC cho thanh toán giao thông số

1 giờ trước
Sau hơn một thập niên triển khai, thu phí điện tử không dừng (ETC) đã hình thành một lớp hạ tầng số quy mô lớn gắn với phương tiện: nhận diện RFID, tài khoản giao thông, trung tâm dữ liệu, hệ thống đối soát và kết nối với ngân hàng, ví điện tử. Khi phạm vi thanh toán mở rộng sang bãi đỗ xe, đăng kiểm và các dịch vụ giao thông khác, bài toán đặt ra là làm thế nào để sử dụng hiệu quả hạ tầng đã đầu tư, trên cơ sở một tiêu chuẩn kết nối chung, tránh hình thành thêm những hệ thống khép kín, trùng lặp.

Nghị định số 119/2024/NĐ-CP về thanh toán điện tử giao thông đường bộ, có hiệu lực từ ngày 1/10/2024, đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong cách tiếp cận đối với tài khoản giao thông. Nếu tài khoản thu phí trước đây chủ yếu phục vụ thanh toán tiền sử dụng đường bộ tại các trạm BOT, thì tài khoản giao thông được thiết kế để kết nối với phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt hợp pháp do ngân hàng hoặc tổ chức trung gian thanh toán cung ứng, phục vụ phạm vi rộng hơn của hoạt động thanh toán điện tử giao thông, đồng thời yêu cầu hệ thống vận hành ổn định, liên tục, bảo mật thông tin và bảo đảm quyền quyết định của chủ phương tiện.

Với hơn 7,5 triệu phương tiện đã đăng ký tài khoản thu phí qua hai nhà cung cấp dịch vụ VETC và ePass tính đến tháng 6/2026, thu phí điện tử không dừng đã đạt mức độ phổ cập lớn trên phạm vi cả nước. Quá trình chuyển đổi các tài khoản này sang tài khoản giao thông tạo nên một mạng lưới định danh phương tiện có quy mô hàng triệu người dùng, mở ra khả năng kết nối với nhiều dịch vụ giao thông hơn trong tương lai.

Với hơn 7,5 triệu phương tiện đang dùng dịch vụ ETC khi chuyển đổi sang tài khoản giao thông sẽ giúp mở rộng phạm vi thanh toán điện tử giao thông

Sự dịch chuyển của thanh toán điện tử không dừng từ các tuyến cao tốc, quốc lộ sang không gian giao thông tĩnh đang diễn ra mạnh mẽ. Minh chứng gần đây nhất chính là Kế hoạch số 198/KH-UBND ngày 22/5/2026 của UBND thành phố Hà Nội quy định từ 1/7/2026, 100% điểm trông giữ, bãi đỗ ô tô thuộc phạm vi áp dụng phải triển khai công nghệ, thu giá dịch vụ theo hình thức điện tử không dừng; với xe máy, các điểm trông giữ phải ứng dụng công nghệ trong quản lý, vận hành và kết nối dữ liệu với cơ quan quản lý. Mục tiêu cốt lõi không chỉ dừng lại ở việc thay đổi một hành vi tiêu dùng, mà là hướng tới sự minh bạch hóa doanh thu, tối ưu dòng chảy giao thông và hiện đại hóa quản trị đô thị.

Tuy nhiên, với mạng lưới khoảng 3.000 bến xe, bãi đỗ và điểm trông giữ được cấp phép trên địa bàn thủ đô, thách thức lớn nhất trong giai đoạn tới không còn nằm ở việc thuyết phục người dân tiếp cận công nghệ, chấp nhận thanh toán điện tử, mà là tổ chức hàng nghìn điểm dịch vụ riêng lẻ vận hành một cách đồng bộ, minh bạch và liên thông dựa trên một tiêu chuẩn kết nối chung thống nhất.

Giá trị của hạ tầng ETC nằm ở khả năng tái sử dụng

Sự bùng nổ của thanh toán số tại Việt Nam những năm qua cho thấy rõ vai trò của kết nối liên thông. Theo Ngân hàng Nhà nước, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 ước đạt khoảng 28 lần GDP, vượt mục tiêu 25 lần GDP đề ra tại Quyết định 1813/QĐ-TTg cho giai đoạn 2021-2025. Một trong những nền tảng tạo nên mức tăng trưởng này là khả năng kết nối ngày càng rộng giữa ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán và các đơn vị chấp nhận thanh toán.

Bài học từ ngành Ngân hàng có ý nghĩa trực tiếp đối với thanh toán giao thông: một dịch vụ chỉ có thể mở rộng trên quy mô lớn khi khách hàng không bị giới hạn trong một hệ sinh thái khép kín và mỗi đơn vị tham gia không phải xây dựng lại toàn bộ hạ tầng thanh toán từ đầu.

Nếu mỗi địa phương, bãi đỗ, bến xe hoặc trung tâm đăng kiểm tiếp tục chọn một tài khoản, một ứng dụng và một cơ chế kết nối riêng, chi phí xã hội sẽ không chỉ nằm ở thiết bị, mà còn ở việc mỗi hệ thống phải đầu tư lại toàn bộ quy trình định danh, kết nối ngân hàng, xác thực, bảo mật, đối soát, hoàn tiền, tra soát. Khi hàng nghìn điểm dịch vụ buộc phải thiết lập các kết nối riêng lẻ với hàng chục ngân hàng và ví điện tử, chi phí xây dựng, kiểm thử và duy trì vận hành hệ thống sẽ tăng theo cấp số nhân.

Một tiêu chuẩn kỹ thuật dùng chung có thể thay đổi cấu trúc chi phí này. Trong mô hình liên thông, tài khoản giao thông không thay thế tài khoản ngân hàng hoặc ví điện tử, mà đóng vai trò lớp định danh chuyên ngành. Đơn vị cung cấp dịch vụ giao thông chịu trách nhiệm xác định đúng phương tiện, đúng dịch vụ và đúng số tiền phát sinh; hệ thống tài khoản giao thông ghi nhận, chuyển tiếp yêu cầu và hỗ trợ đối soát; ngân hàng hoặc tổ chức trung gian thanh toán thực hiện xác thực, xử lý dòng tiền theo nguồn thanh toán được khách hàng lựa chọn.

Từ 1/7/2026, 100% điểm trông giữ, bãi đỗ ô tô thuộc phạm vi áp dụng phải triển khai công nghệ, thu giá dịch vụ theo hình thức điện tử không dừng

Thực tế tại Hà Nội đã phần nào minh chứng cho hướng đi này. Tính đến giữa tháng 7/2026, VETC đã triển khai dịch vụ tại hơn 300 bãi đỗ áp dụng công nghệ thu phí trông giữ xe điện tử không dừng giống như qua các trạm thu phí trên toàn quốc, tỷ lệ thanh toán điện tử đạt gần 99% với ô tô, nhờ tận dụng tài khoản giao thông và kết nối ngân hàng vốn đã phục vụ hàng triệu người dùng ETC rút ngắn thời gian triển khai, giảm chi phí xã hội, giúp ngân hàng và trung gian thanh toán khai thác hiệu quả kết nối đã đầu tư thay vì thiết lập lại quan hệ với từng nhà cung cấp riêng lẻ,

Cách tiếp cận này nhất quán với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, trong đó hạ tầng số được xác định phải phát triển theo nguyên tắc hiện đại, đồng bộ, an ninh, an toàn, hiệu quả và tránh lãng phí.

Mở rộng tài khoản giao thông sang các dịch vụ gắn với phương tiện

Nếu bãi đỗ xe là bước mở rộng tự nhiên nhờ tần suất giao dịch cao và khả năng nhận diện trực tiếp phương tiện, thì đăng kiểm có thể trở thành phép thử tiếp theo đối với năng lực liên thông giữa dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng thanh toán.

Khi thông tin phương tiện, kết quả kiểm định và giấy chứng nhận đăng kiểm từng bước được số hóa, việc tích hợp thanh toán qua tài khoản giao thông có thể giúp rút ngắn hành trình dịch vụ. Chủ phương tiện có thể đặt lịch, nhận thông báo về khoản phải trả, lựa chọn nguồn tiền đã liên kết, hoàn tất thanh toán và nhận chứng nhận điện tử trong cùng một quy trình. Trung tâm đăng kiểm vẫn thực hiện nghiệp vụ chuyên môn và xác định nghĩa vụ tài chính phát sinh; ngân hàng hoặc tổ chức trung gian thanh toán xác thực, xử lý dòng tiền; còn hệ thống tài khoản giao thông đảm nhiệm việc kết nối dữ liệu phương tiện với yêu cầu thanh toán.

Tài khoản giao thông gắn với phương tiện có thể trở thành đầu mối kết nối thanh toán xuyên suốt hành trình, từ trạm thu phí trên cao tốc đến bãi đỗ xe tại bệnh viện, trung tâm thương mại, sân bay, bến xe hoặc trung tâm đăng kiểm.

Cách tiếp cận tương tự có thể được nghiên cứu đối với phí sử dụng đường bộ thu theo đầu phương tiện, giá dịch vụ tại bến xe, phà, cảng, sân bay và các khoản thu khác gắn với hoạt động giao thông. Tuy nhiên, khả năng kết nối về mặt kỹ thuật không đồng nghĩa mọi khoản thu đều có thể áp dụng cùng một quy trình tài chính. Mỗi khoản có thể mang bản chất pháp lý, chủ thể thụ hưởng và yêu cầu về hóa đơn, chứng từ, hạch toán, đối soát khác nhau.

Hành lang pháp lý và nền tảng kỹ thuật cho tài khoản giao thông cơ bản đã được hình thành. Vấn đề còn lại là cần có định hướng và cơ chế triển khai thống nhất từ cơ quan quản lý nhà nước để mở rộng kết nối sang các dịch vụ giao thông khác. Khi đó, tài khoản giao thông gắn với phương tiện có thể trở thành đầu mối kết nối thanh toán xuyên suốt hành trình, từ trạm thu phí trên cao tốc đến bãi đỗ xe tại bệnh viện, trung tâm thương mại, sân bay, bến xe hoặc trung tâm đăng kiểm. Chủ phương tiện không phải mở thêm tài khoản hay cài đặt một ứng dụng riêng cho mỗi điểm dừng; trong khi ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán và đơn vị cung cấp dịch vụ có thể cùng tham gia trên một tiêu chuẩn kết nối thống nhất.

PV











Home Icon VỀ TRANG CHỦ