🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Khai mở thị trường Halal cho nông sản Việt Nam

52 phút trước
Thị trường Halal tăng trưởng hơn 10% mỗi năm được xem là 'mỏ vàng' cho nông sản Việt Nam trong bối cảnh các hiệp định thương mại mở rộng cơ hội xuất khẩu.

Ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Ngày 7/5, tại Cần Thơ, Văn phòng Thông báo và Điểm hỏi đáp quốc gia về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật Việt Nam (SPS Việt Nam), Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ tổ chức Hội nghị “Cập nhật các quy định và cam kết về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS) trong Hiệp định VIFTA, CEPA (Israel và các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất)”.

Tại hội nghị, các chuyên gia nhận định thị trường Halal đang trở thành một trong những dư địa tăng trưởng quan trọng đối với xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam. Theo ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, với quy mô khoảng 2 tỷ người Hồi giáo trên toàn cầu, nhu cầu đối với thực phẩm và sản phẩm Halal tiếp tục gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt tại các khu vực Đông Nam Á, Trung Đông và châu Phi.

Những thị trường này có nhu cầu lớn đối với các sản phẩm nông nghiệp có nguồn gốc tự nhiên, an toàn và đáp ứng các tiêu chuẩn Halal cũng như các quy định SPS liên quan. Việt Nam được đánh giá có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp cận thông qua các hiệp định thương mại như Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Israel (VIFTA) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Việt Nam – UAE (CEPA).

Tuy nhiên, mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường Halal hiện vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Số lượng mặt hàng xuất khẩu còn hạn chế, nhiều địa phương chưa có sản phẩm đạt chứng nhận Halal để xuất khẩu.

Theo ông Ngô Xuân Nam, khó khăn lớn nằm ở việc các biện pháp SPS của thị trường nhập khẩu thường xuyên thay đổi. Đối với thị trường Halal, yêu cầu còn khắt khe hơn khi doanh nghiệp không chỉ phải đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm mà còn phải tuân thủ các quy định đặc thù liên quan đến nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển và tính phù hợp với luật Hồi giáo.

Thị trường Halal toàn cầu hiện có quy mô hơn 8.000 tỷ USD và dự kiến đạt mốc 10.000 tỷ USD trước năm 2028. Đây là một trong những lĩnh vực tiêu dùng phát triển nhanh nhất thế giới, trong đó thực phẩm Halal chiếm khoảng 65% tổng kim ngạch thương mại với tốc độ tăng trưởng bình quân trên 10% mỗi năm.

Ông Nguyễn Thành Duy, Phó Vụ trưởng Vụ Trung Đông - Châu Phi (Bộ Ngoại giao) nhận định khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Bắc Phi và Trung Đông tiếp tục là những thị trường trọng điểm do tập trung đông đảo cộng đồng người Hồi giáo. Đáng chú ý, ngay cả tại các thị trường phát triển như châu Âu, Australia hay Hoa Kỳ, sản phẩm Halal cũng ngày càng được ưa chuộng nhờ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.

Với Việt Nam, thị trường Halal không chỉ mở ra cơ hội xuất khẩu mà còn tạo động lực đa dạng hóa hàng hóa, dịch vụ và phát triển du lịch. Với vị trí chiến lược tại Đông Nam Á cùng năng lực sản xuất nông, lâm, thủy sản dồi dào, Việt Nam được đánh giá là “cửa ngõ tiềm năng” kết nối thị trường Halal khu vực với thế giới.

Quang cảnh hội nghị. Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Ở góc độ địa phương, ông Dương Hải Lâm, Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng chế biến và Phát triển thị trường thành phố Cần Thơ, cho rằng hiện tồn tại một nghịch lý khi nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lớn nhưng tỷ lệ sản phẩm có chứng nhận Halal còn rất thấp.

Nhiều doanh nghiệp tại Khu công nghiệp Trà Nóc xuất khẩu hàng hóa sang UAE hay Saudi Arabia với giá trị hàng triệu USD mỗi năm, song chỉ khoảng 30% sản phẩm được dán nhãn Halal chính thức. Việc thiếu chứng nhận khiến doanh nghiệp mất từ 10–15% giá trị gia tăng trong giá bán.

Nguyên nhân chủ yếu đến từ chi phí duy trì chứng nhận Halal còn cao, trong khi thời hạn hiệu lực ngắn, thường chỉ từ 1–3 năm. Chi phí đánh giá và mời chuyên gia quốc tế có thể lên tới hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng, tạo áp lực lớn đối với doanh nghiệp nếu chưa có đơn hàng ổn định. Ngoài ra, sự thiếu thống nhất giữa các bộ tiêu chuẩn Halal của từng quốc gia cũng khiến doanh nghiệp phải tốn thêm chi phí nếu muốn tiếp cận đồng thời nhiều thị trường.

Để tháo gỡ khó khăn, ông Dương Hải Lâm đề xuất sớm ban hành Nghị định về sản phẩm và dịch vụ Halal cùng hệ thống quy định quản lý nhà nước đồng bộ hơn. Đồng thời, cần tăng cường tập huấn cho doanh nghiệp về tiêu chuẩn Halal, quy trình kiểm soát, minh bạch thông tin, hoạt động chứng nhận và các lợi ích trong xuất khẩu.

Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn




















Home Icon VỀ TRANG CHỦ