🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Hoàn thiện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo dể phát triển bền vững kinh tế biển

10 giờ trước
Trước yêu cầu mới trong phát triển, gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên biển, đòi hỏi cần sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằm tháo gỡ vướng mắc, bất cập, hoàn thiện pháp lý cho quản lý, phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển...

hoàn thiện hành lang pháp lý để quản lý, phát triển bền vững kinh tế biển. Ảnh minh họa

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa công bố dự thảo hồ sơ Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (thay thế). Điều này nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý thống nhất cho quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý; tháo gỡ các rào cản pháp lý với phát triển kinh tế biển bền vững; tăng cường bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển và vùng bờ; đồng thời bảo đảm thực hiện đầy đủ các cam kết, điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia...

NHỮNG VẤN ĐỀ, YÊU CẦU MỚI ĐẶT RA TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sau gần 10 năm thi hành, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Hệ thống pháp luật đã góp phần nâng cao nhận thức xã hội, thúc đẩy bảo vệ hệ sinh thái biển, khai thác hợp lý tài nguyên, phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia…

Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của phát triển kinh tế biển, tiến bộ khoa học- công nghệ và gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên biển, các quy định đã bộc lộ bất cập. Một số quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo với luật khác; thiếu cụ thể, chưa phù hợp thực tiễn hoặc chưa đầy đủ để triển khai hiệu quả.

Ví dụ như: quy định về hành lang bảo vệ bờ biển; phân vùng và xác định khu vực biển theo mục đích sử dụng; cơ chế kiểm soát ô nhiễm từ đất liền, trên biển và xuyên biên giới; quản lý nhận chìm ở biển; chia sẻ và tích hợp dữ liệu biển…

Luật hướng tới hình thành khuôn khổ pháp lý thống nhất, chuyên ngành và có tính hệ thống cho quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và không gian biển, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển và hải đảo. Ảnh minh họa

Đáng chú ý, trong dự thảo tờ trình chính sách, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng chỉ rõ một số vấn đề mới và xu thế mới cần xem xét, sửa đổi, bổ sung trong luật. Ví dụ như quy định về bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng bờ; bảo vệ môi trường biển do rác thải biển, trong đó có rác thải nhựa biển; một số điều ước quốc tế chưa được nội luật hóa; về quản lý sử dụng không gian biển...

Về quy định bảo vệ môi trường biển do rác thải biển, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã có những quy định quản lý chất thải, song còn thiếu các quy định cụ thể với rác thải nhựa đại dương như giảm thiểu- tái sử dụng- tái chế, thu gom rác từ hoạt động nuôi biển, trên đảo, từ tàu cá nhỏ; thiếu hướng dẫn kỹ thuật và phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp chính quyền.

Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo hiện mới dừng ở mức nguyên tắc, chưa có cơ chế kiểm soát rác thải biển cụ thể. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung luật theo hướng quy định rõ về phòng ngừa, kiểm soát, thu gom và xử lý rác thải biển, đặc biệt là rác thải nhựa, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và các cam kết quốc tế.

Về quản lý sử dụng không gian biển, diện tích biển Việt Nam rất lớn và nhu cầu khai thác, sử dụng ngày càng đa dạng, trong khi hệ thống pháp luật hiện hành mới dừng ở quy định khung về giao khu vực biển, chưa luật hóa đầy đủ các vấn đề như quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân; chế độ tài chính; cơ chế xử lý xung đột, chồng lấn không gian biển...

Ngoài ra, còn thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng cho phân vùng sử dụng không gian biển ở cấp địa phương và phân định ranh giới quản lý hành chính trên biển; đồng thời cần nghiên cứu cơ chế giao địa phương xác định mức thu tiền sử dụng khu vực biển để phù hợp tiềm năng từng vùng.

Việc xây dựng các chính sách sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối mới của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển bền vững kinh tế biển; chuyển đổi mô hình quản lý biển từ phương thức truyền thống sang quản trị tổng hợp, hiện đại, dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu; góp phần thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.

Việc sửa đổi Luật hướng tới hình thành khuôn khổ pháp lý thống nhất, chuyên ngành và có tính hệ thống cho quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và không gian biển, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển và hải đảo; khắc phục căn bản tình trạng phân tán, chồng chéo, thiếu cụ thể và khoảng trống pháp luật; đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững kinh tế biển...

CÁC NHÓM CHÍNH SÁCH LỚN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ BIỂN

Tại dự thảo tờ trình, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết các chính sách sửa đổi, bổ sung tập trung hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, trong đó trọng tâm là: quản lý, sử dụng không gian biển; bảo vệ môi trường biển, đa dạng sinh học biển, tài nguyên và môi trường vùng bờ; kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; cơ chế, chính sách phát triển bền vững kinh tế biển…

Thứ nhất, tăng cường quản lý, sử dụng không gian biển, thiết lập cơ sở pháp lý để tổ chức thực hiện Quy hoạch không gian biển quốc gia, trong đó quy định rõ nguyên tắc, tiêu chí và cơ chế xử lý xung đột, chồng lấn trong sử dụng không gian biển theo tiếp cận quy hoạch không gian biển (MSP).

Bổ sung và hoàn thiện các công cụ quản lý hiện đại, bao gồm cơ chế đấu giá quyền sử dụng khu vực biển; đăng ký, số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu không gian biển; công cụ kinh tế trong quản lý, sử dụng khu vực biển; cơ chế quản lý vòng đời công trình, dự án trên biển.

Đảm bảo hài hòa giữa quyền khai thác, sử dụng với trách nhiệm bảo vệ môi trường, sử dụng bền vững tài nguyên biển và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Ảnh minh họa

Cùng với đó hoàn thiện hệ thống quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển, bảo đảm hài hòa giữa quyền khai thác, sử dụng với trách nhiệm bảo vệ môi trường, sử dụng bền vững tài nguyên biển và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý của Nhà nước với không gian biển, đặc biệt trong các khâu kiểm soát sử dụng, điều tiết lợi ích, thu hồi khu vực biển, bồi thường, hỗ trợ, phòng ngừa và giải quyết tranh chấp...

Thứ hai, tăng cường quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng bờ nhằm thiết lập cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất và khả thi để tăng cường bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng bờ; phòng ngừa, kiểm soát xói lở, suy thoái, ô nhiễm và các tác động bất lợi của biến đổi khí hậu, nước biển dâng; nâng cao khả năng chống chịu của vùng bờ, qua đó góp phần bảo đảm phát triển bền vững kinh tế biển, ổn định sinh kế ven biển và quốc phòng, an ninh.

Thứ ba, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, hướng tới nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm; tăng cường giám sát, quan trắc; hoàn thiện cơ chế bồi thường, khắc phục sự cố; đẩy mạnh phòng ngừa từ sớm, từ xa.

Thứ tư, thúc đẩy khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực biển, hướng tới tạo hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong điều tra cơ bản, quan trắc, giám sát, quản lý dữ liệu; khuyến khích nghiên cứu, đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển kinh tế biển.

Thứ năm, bổ sung cơ chế phát triển bền vững kinh tế biển. Chính sách này xác lập nguyên tắc phát triển kinh tế biển xanh, hiệu quả, bền vững; gắn khai thác với bảo tồn; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cộng đồng, doanh nghiệp và Nhà nước.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các chính sách được xây dựng nhằm thiết lập nền tảng pháp lý cho quản lý, sử dụng không gian biển theo quy hoạch tích hợp, hài hòa lợi ích giữa các ngành, lĩnh vực và các cấp; Tăng cường bảo vệ, phục hồi tài nguyên, môi trường vùng bờ, nâng cao khả năng chống chịu và bảo đảm an ninh tài nguyên, môi trường biển.

Việc xây dựng các chính sách cũng nhằm hoàn thiện cơ chế phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, chuyển trọng tâm từ “xử lý” sang “chủ động phòng ngừa, quản lý rủi ro”.

Cùng với đó luật hóa các yêu cầu về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho hệ thống dữ liệu biển và quản trị biển hiện đại; tạo hành lang pháp lý thúc đẩy phát triển bền vững các ngành kinh tế biển; bảo đảm khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển gắn với bảo vệ, bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái, sử dụng hiệu quả không gian biển và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Hằng Anh

TIN LIÊN QUAN


















Home Icon VỀ TRANG CHỦ