Hiệu quả các mô hình, chương trình của Bộ đội Biên phòng trong thực hiện công tác dân tộc

Đồng chí Y Thông phát biểu tham luận tại hội nghị. Ảnh: Ngọc Lâm
Kính thưa Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng!
Thưa toàn thể các đồng chí!
Hôm nay, tại Hội nghị tổng kết, tôn vinh các mô hình, chương trình, phong trào Bộ đội Biên phòng tham gia xây dựng khu vực biên giới vững mạnh giai đoạn 2015-2025, thay mặt Bộ Dân tộc và Tôn giáo, tôi trân trọng chúc mừng những kết quả nổi bật mà cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng đã đạt được trong 10 năm qua; đồng thời đánh giá cao sự phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm, hiệu quả của Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng với cơ quan công tác dân tộc trong triển khai các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, khu vực biên giới.
Kết quả phối hợp thực hiện công tác dân tộc tại khu vực biên giới giai đoạn 2015-2025
Nhìn lại 10 năm qua, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đánh giá cao sự phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm và hiệu quả giữa cơ quan công tác dân tộc và Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng trong triển khai chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng khu vực biên giới vững mạnh.
Giai đoạn 2016-2021, hai cơ quan đã từng bước hình thành phương thức phối hợp thiết thực, hướng mạnh về cơ sở, tập trung vào vận động đồng bào phát triển kinh tế - xã hội, tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia; củng cố hệ thống chính trị và phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Một trong những kết quả nổi bật là hai ngành đã phối hợp tổ chức 124 lớp tập huấn cho 11.395 lượt cán bộ chủ chốt cấp xã, thôn, cán bộ làm công tác dân tộc, già làng, trưởng bản, người có uy tín và cán bộ Bộ đội Biên phòng về quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững và công tác vận động đồng bào các dân tộc.[1]
Bộ đội Biên phòng cũng phát huy rõ vai trò trong củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Các đơn vị đã cử 171 cán bộ tham gia cấp ủy cấp huyện, 474 đồng chí tham gia cấp ủy cấp xã, 322 cán bộ tăng cường xã; giới thiệu 2.096 đảng viên tham gia sinh hoạt chi bộ thôn, bản và phân công 9.661 đảng viên phụ trách 42.247 hộ gia đình ở khu vực biên giới. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo ở cơ sở, nắm chắc tình hình địa bàn, tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân và nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng. Cùng với đó, hai cơ quan đã phối hợp tham mưu triển khai nhiều chương trình, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; hướng dẫn đồng bào phát triển sản xuất, ổn định đời sống và tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới. Nhiều mô hình thiết thực như “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”, “Nâng bước em tới trường - Con nuôi Đồn Biên phòng” được triển khai, tạo sức lan tỏa và góp phần củng cố mối quan hệ gắn bó quân - dân.
Trên nền tảng kết quả đó, giai đoạn 2022-2025, hai cơ quan tiếp tục phối hợp thực hiện Đề án tổng thể và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: 2021-2025 theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg. Nội dung phối hợp được mở rộng từ tuyên truyền, vận động sang theo dõi, kiểm tra, giám sát, hướng dẫn và kịp thời tham mưu giải quyết những vấn đề liên quan đến công tác dân tộc, chính sách dân tộc tại địa bàn biên giới.
Có thể thấy, công tác phối hợp đã có bước phát triển từ tạo nền tảng về cơ chế, đội ngũ và phương thức vận động ở cơ sở sang gắn kết chặt chẽ hơn với các chương trình, chính sách và nguồn lực quốc gia, qua đó nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc tại khu vực biên giới.
Một số mô hình hiệu quả do Bộ đội Biên phòng thực hiện từ vốn Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Giai đoạn 2021-2025 đánh dấu bước phát triển mới trong chính sách dân tộc với việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Chương trình không chỉ tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, giảm nghèo, mà còn quan tâm đến giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, truyền thông, tuyên truyền, vận động và phát huy vai trò của các lực lượng trong tham gia phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong quá trình triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những kinh nghiệm, mô hình đã được Bộ đội Biên phòng xây dựng và phát huy hiệu quả trong thực tiễn tiếp tục được kế thừa, đồng thời có thêm nguồn lực để tổ chức thực hiện. Từ thực tiễn triển khai, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đánh giá cao 2 mô hình có tính tiêu biểu, có sức lan tỏa và phù hợp với yêu cầu công tác dân tộc tại khu vực biên giới.
1. Mô hình “Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nâng bước em tới trường”
Đây là mô hình thuộc Nội dung số 2 của Tiểu dự án 3 - Dự án 3 của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong 5 năm, các đơn vị quân đội đã hỗ trợ 21.165 học sinh (trong đó nhận nuôi 1.600 em tại các đơn vị quân đội và hỗ trợ tại gia đình 19.565 em). Tổng kinh phí thực hiện mô hình đạt 180 tỷ đồng[2]. Mô hình được kế thừa từ Chương trình “Nâng bước em tới trường - Con nuôi Đồn Biên phòng” do Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng thực hiện từ nhiều năm nay. Điểm nổi bật của mô hình là cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng không chỉ hỗ trợ vật chất mà còn trực tiếp đồng hành với học sinh và gia đình; theo dõi việc học tập, động viên các em vượt qua khó khăn, tạo điều kiện để các em tiếp tục học tập. Từ góc độ công tác dân tộc, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đánh giá giá trị của mô hình trên ba phương diện.
Thứ nhất, mô hình góp phần bảo đảm cơ hội học tập cho trẻ em dân tộc thiểu số, nhất là những em có hoàn cảnh khó khăn, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Thứ hai, góp phần giảm nguy cơ tái nghèo và nghèo đa chiều trong dài hạn. Bởi giáo dục và nâng cao trình độ là một trong những yếu tố quan trọng tạo cơ hội tiếp cận việc làm, sinh kế và nâng cao thu nhập.
Thứ ba, góp phần tăng cường mối quan hệ quân - dân và củng cố niềm tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước. Sự đồng hành trực tiếp của cán bộ, chiến sĩ với trẻ em và gia đình tạo ra tác động xã hội vượt ra ngoài phạm vi một chương trình hỗ trợ giáo dục.
2. Tuyên truyền, vận động nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thuộc Tiểu dự án 1 - Dự án 10 của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Thực hiện Tiểu dự án 1 của Dự án 10, trong 5 năm, các đơn vị quân đội đã tổ chức 488 lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, phương pháp tuyên truyền với 19.518 lượt người tham gia. Đồng thời, biên soạn, in ấn, phát hành 48.668 tài liệu tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số. Các đơn vị quân đội, nòng cốt là các Đồn Biên phòng, đã tổ chức 18.205 buổi tuyên truyền, vận động nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; phối hợp biểu dương 3.315 điển hình tiên tiến, già làng, trưởng bản, trưởng thôn, người có uy tín…
Qua việc thực hiện hiệu quả Tiểu dự án 1 của Dự án 10, công tác tuyên truyền từng bước chuyển từ “truyền đạt thông tin” sang hướng dẫn, vận động và tổ chức người dân cùng tham gia. Đây là điểm rất quan trọng, bởi mục tiêu cuối cùng của công tác tuyên truyền, vận động không phải chỉ để người dân biết chính sách, mà phải giúp người dân hiểu, đồng thuận, chủ động tham gia và phát huy vai trò chủ thể trong quá trình phát triển.
Kính thưa Hội nghị!
Bộ đội Biên phòng là lực lượng quan trọng đưa chính sách dân tộc đến cơ sở, nhất là những địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới. Đồng thời, thông qua hệ thống cán bộ bám địa bàn, Bộ đội Biên phòng cũng góp phần cung cấp thông tin từ cơ sở, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của đồng bào để cơ quan chức năng có thêm căn cứ hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách phù hợp hơn.
Một số định hướng phối hợp trong giai đoạn tới
Từ kết quả thực hiện trong 10 năm qua, có thể khẳng định sự phối hợp giữa cơ quan công tác dân tộc và Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã từng bước hình thành phương thức phối hợp tương đối toàn diện, từ tham mưu chính sách, xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội đến tuyên truyền, vận động và chăm lo đời sống Nhân dân. Giai đoạn 2026-2030, Bộ Dân tộc và Tôn giáo mong muốn tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và các địa phương, tập trung vào một số nhiệm vụ sau:
Một là, tiếp tục phát huy vai trò của Bộ đội Biên phòng trong tham gia thực hiện chính sách dân tộc tại khu vực biên giới; chủ động phối hợp nắm tình hình, tham mưu giải quyết những vấn đề phát sinh từ cơ sở, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống và sinh kế của đồng bào.
Hai là, tiếp tục duy trì, nâng cao chất lượng mô hình “Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nâng bước em tới trường”; quan tâm hơn đến tính bền vững của quá trình hỗ trợ, gắn giáo dục với hướng nghiệp, đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực tại địa phương.
Ba là, tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, vận động đồng bào theo hướng thiết thực, phù hợp với từng dân tộc, từng địa bàn; tăng cường ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số; đồng thời gắn tuyên truyền chính sách với hướng dẫn phát triển sản xuất, phổ biến pháp luật và nâng cao năng lực tự chủ của cộng đồng.
Bốn là, tăng cường phối hợp, lồng ghép các nguồn lực của các chương trình, chính sách; ưu tiên những địa bàn biên giới còn nhiều khó khăn, những nơi còn hạn chế về hạ tầng, sinh kế, giáo dục, y tế và chất lượng nguồn nhân lực.
Năm là, tiếp tục tổng kết, đánh giá và nhân rộng những mô hình hiệu quả. Thực tiễn 10 năm qua cho thấy, những mô hình xuất phát từ cơ sở, gắn với nhu cầu thực tế của người dân và có sự tham gia trực tiếp của cán bộ, chiến sĩ Biên phòng có sức sống và khả năng lan tỏa rất lớn.
Trên đây là báo cáo tham luận của Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
Xin trân trọng cảm ơn!
-----------------------------------------
[1] Báo cáo tổng kết Chương trình phối hợp công tác giai đoạn 2016-2021 và ký Chương trình phối hợp giai đoạn 2022-2025 giữa Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo) và Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng.
[2] Báo cáo của Bộ Quốc phòng tại Hội nghị tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tổ chức tháng 8/2025.
1 giờ trước
10 giờ trước
14 giờ trước
16 giờ trước
18 giờ trước
18 giờ trước
1 ngày trước
21 phút trước
1 giờ trước
48 phút trước
3 phút trước
5 phút trước
6 phút trước
9 phút trước
48 phút trước
53 phút trước
55 phút trước
59 phút trước