Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại tỉnh Đắk Lắk

Ảnh minh họa.
1. Mở đầu
Tỉnh Đắk Lắk có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển cây mắc ca, các nghiên cứu trồng khảo nghiệm mắc ca được thực hiện từ đầu những năm 2000 (năm 2002, 2004), kết quả cho thấy cây mắc ca có sự thích nghi tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng. Tính đến cuối năm 2024, diện tích mắc ca trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk vào khoảng 5.000 ha, sản lượng đạt trên 10.000 tấn hạt mỗi năm. Tuy nhiên việc trồng mắc ca tại Đắk Lắk cơ bản tự phát và theo kinh nghiệm là chính nên bộc lộ không ít vấn đề như giống trồng phù hợp, vùng trồng an toàn về mặt sinh thái (đảm bảo yêu cầu sinh thái cho cây mắc ca sinh trưởng, phát triển cho năng suất), kỹ thuật canh tác … do vậy cần có những đánh giá tổng thể và đề xuất giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại Đắk Lắk.
2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1. Nội dung nghiên cứu
Phân tích hiện trạng phát triển cây mắc ca tại Đắk Lắk
Đề xuất giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại Đắk Lắk
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Áp dụng phương pháp đánh giá có sự tham gia kết hợp với quan trắc trực tiếp trên đồng ruộng để thu thập dữ liệu về canh tác mắc ca.
Phân tích, tổng hợp các yếu tố liên qua đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cây mắc ca trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (Phân tích SWOT), trên cơ sở đó đề xuất giải pháp phát triển cây mắc ca trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (Bao gồm: Nhóm giải pháp về quy hoạch, giải pháp về giống và kỹ thuật canh tác tổng hợp, giải pháp về thị trường; …)
Kế thừa dữ liệu từ các kết quả nghiên cứu trước.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Hiện trạng canh tác mắc ca tại Đắk Lắk
Tính đến 12/2022, tổng diện tích mắc ca trồng tại Đắk Lắk là 3.748,7 ha, tập trung ở các huyện Krông Năng, Ea H’leo, Ea Kar, Krông Búk. Trong đó, diện tích trồng xen là 3.019,41 ha và diện tích trồng thuần là 729,29 ha.
Bảng 1. Diện tích mắc ca theo vùng trồng

Nguồn. Báo cáo của Sở NN & PTNT Đắk Lắk, 14/4/2023
Số liệu thống kê mới nhất (12/2024) cho thấy, diện tích trồng mắc ca tại Đắk Lắk ước đạt 5.000 ha, tăng khoảng 3.500 ha so với diện tích mắc ca trồng được tính đến năm 2020 (1.588 ha)

Hình 1. Diễn biến diện tích trồng mắc ca tại Đắk Lắk trong 5 năm gần nhất
Kết quả khảo sát từ 180 hộ trồng mắc ca (với diện tích 251,1 ha) trên địa bàn 6 huyện của tỉnh Đắk Lắk cho thấy, tỷ lệ diện tích trồng xen và trồng thuần là khác nhau khá rõ theo từng địa phương. Trong đó tại EaH’Leo và Krông Năng có tỷ lệ trồng xen cao trên 50% và chủ yếu là trồng xen với cà phê (chiếm 70%), số còn lại là xen với sầu riêng, bơ, giổi, tiêu, điều….
Bảng 2. Tỷ lệ % diện tích trồng xen, trồng thuần tại các huyện điều tra

Kết quả khảo sát về độ cao vùng trồng, mật độ trồng và năng suất bình quân trên cây được thể hiện ở bảng 3.
Bảng 3. Độ cao địa hình, mật độ trồng và năng suất mắc ca tại các huyện điều tra

Phần lớn diện tích mắc ca khảo sát tại 6 huyện của tỉnh Đắk Lắk được trồng ở những vùng có độ cao so với mực nước biển từ 430-850 m, trong đó vùng trồng ở 3 huyện Krông Năng, Krông Búk và Ea H’leo phân bố ở độ cao từ 600-850m và vùng trồng ở 3 huyện M’Đrăk, Ea Kar và Lăk phân bố ở độ cao từ 450-600m.
Mật độ trồng mắc ca biến động theo phương thức trồng. Trồng thuần, mật độ phổ biến từ 278-400 cây/ha, trồng xen phổ biến với mật độ từ 70-278cây/ha, trong đó tập trung chủ yếu là 2 mật độ trồng thuần là 278 cây/ha (khoảng cách trồng 6x9m) và trồng xen 185 cây/ha (khoảng cách trồng 6x9m).
Khảo sát cho thấy, năng suất trung bình trên cây đạt cao nhất tại huyện Krông Năng, cây trên 10 năm tuổi đạt được 21,5 kg hạt tươi/cây, tiếp đến là các huyện Ea H’leo, Krông Búk cho năng suất trung bình cây trên 10 năm tuổi đạt 16,4 kg hạt/cây và 13,9 kg hạt/cây. Tại các huyện M’Đrăk, Ea Kar, Lắk năng suất mắc ca đạt thấp hơn, trung bình cây 10 năm tuổi đạt từ 5 kg hạt/cây đến dưới 10 kg hạt/cây, thấp nhất là tại huyện Lắk.
Về cơ cấu giống mắc ca trồng tại Đắk Lắk cho thấy có 19 giống mắc ca được trồng trên địa bàn (246, 344, 508, 695, 741 788, 800, 816, 842, 849, 856, A4, A16, A38, A268, DaD, H2, OC, QN1) Các giống được trồng chính là: OC và QN1 (6/6 huyện); 695, 788, H2 (5/6 huyện); A38 và 842 (4/6 huyện).
Bảng 4. Tổng hợp năng suất trung các giống mắc ca theo vùng trồng

Kết quả cho thấy, năng suất trung bình trên cây của các giống mắc ca ở thời kỳ thu hoạch chính (>7 năm tuổi) biến động từ 5,6 kg hạt/cây/năm đến 14,8 kg hạt/cây/năm. Trong số 19 giống mắc ca được khảo sát có 5 giống cho năng suất hơn 10 kg hạt/cây/năm là: OC, QN1, A38, A268, 849 và 856. Sự chênh lệch về năng suất hạt phụ thuộc chính vào đặc điểm của các giống và một phần ở đặc điểm sinh thái của khu vực trồng. Nhìn chung, các giống mắc ca trồng tại khu vực huyện Krông Năng và Krông Búk cho năng suất cao hơn so với các vùng trồng khác trong tỉnh Đắk Lắk.
Việc đánh giá hiệu quả kinh tế của việc trồng mắc ca trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk được tính toán dựa trên số liệu thu thập trong 2 năm 2022 và 2023 của 10 vườn trồng xen và 10 vườn trồng thuần, ở độ tuổi 7-10 năm.
Bảng 5. Hiệu quả kinh tế của cây mắc ca tại các huyện điều tra tỉnh Đắk Lắk

Kết quả cho thấy: Lợi nhuận thu được từ 1 ha mắc ca từ năm thứ 7 trở đi biến động khá lớn, từ 94,4 triệu đồng đến 330,2 triệu đồng/ha/năm đối với vườn trồng thuần và đạt 42,5 triệu đồng đến 179,0 triệu đồng/ha/năm với vườn trồng xen. Trong đó, tại huyện Krông Năng cây mắc ca cho lợi nhuận kinh tế đạt cao nhất ở cả mô hình trồng xen và trồng thuần, địa phương trồng mắc ca cho lợi nhuận thấp nhất là huyện M’Đrắk (với vườn trồng thuần) và huyện Lắk (với vườn trồng xen).
3.2. Nghiên cứu đề xuất giải pháp kỹ thuật phù hợp để phát triển bền vững cây mắc ca tại Đắk Lắk
Phân tích SWOT về hiện trạng phát triển cây mắc ca tại Đắk Lắk

Đề xuất giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca trên địa bàn Đắk Lắk
Trên cơ sở kết quả phân tích kinh tế và kết quả phân tích SWOT đối với hiện trạng phát triển cây mắc ca tại Đắk Lắk, cần tập trung vào các nhóm giải pháp chính như sau:
(1) Quy hoạch vùng trồng
Rà soát quỹ đất phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây mắc ca và phù hợp với kế hoạch sử dụng đất theo từng giai đoạn của tỉnh để phát triển bền vững cây mắc ca. Quy hoạch vùng trồng mắc ca ưu tiên phát triển theo hướng trồng xen mắc ca với loài cây trồng khác trên đất trồng cây công nghiệp, chú ý đến quỹ đất quy hoạch phát triển rừng sản xuất có điều kiện sinh thái phù hợp với cây mắc ca để hình thành các vùng chuyên canh và sản xuất có chứng nhận trên một số địa bàn trọng điểm của tỉnh (Krông Năng, Krông Búk, Ea H’Leo, M’Đrăk) của tỉnh Đắk Lắk.
(2) Phát triển sản xuất
- Chọn trồng các giống phù hợp, từng bước cải tạo và thay thế dần diện tích giống không phù hợp bằng giống mới có năng suất và chất lượng tốt. Kết quả đề xuất các giống mắc ca phù hợp theo vùng trồng được khảo sát cụ thể như sau:
Bảng đề xuất giống mắc ca theo vùng trồng chính

- Phát triển mắc ca theo chuỗi giá trị, xây dựng và phát triển các liên kết trong sản xuất và kinh doanh sản phẩm mắc ca qua việc thúc đẩy thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm mắc ca trên địa bàn.
- Xây dựng các mô hình phát triển mắc ca theo tiêu chuẩn VietGAP, tiêu chuẩn hữu cơ, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu.
(3)Thương mại và tiêu thụ sản phẩm
- Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tăng cường các hoạt động đầu tư chế biến sản phẩm như dầu mắc ca, sữa mắc ca ....
- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá hình ảnh sản phẩm mắc ca Đắk Lắk; khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh mắc ca, hợp tác xã, tổ hợp tác tham gia các lễ hội, festival trong và ngoài tỉnh, từng bước xây dựng thương hiệu mắc ca Đắk Lắk.
- Tạo điều kiện cho doanh nghiệp và các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các cơ sở sơ chế, chế biến, nhà máy chế biến sâu gắn với vùng trồng nguyên liệu.
- Đối với thị trường trong nước: cần hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm mắc ca Đắk Lắk gắn với chỉ dẫn địa lý; thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, tuyên truyền, giới thiệu để người tiêu dùng trong nước có đủ thông tin về sản phẩm mắc ca.
- Đối với thị trường xuất khẩu: phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp thực hiện các biện pháp mở rộng thị trường xuất khẩu, tập trung thực hiện các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu chính ngạch sản phẩm nhân và hạt mắc ca nguyên vỏ và các sản phẩm mắc ca chế biến sâu.
(4) Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về cây mắc ca
- Hỗ trợ công tác nghiên cứu chọn tạo giống mắc ca theo hướng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, chống chịu sâu bệnh hại, thích nghi với các tiểu vùng sinh thái.
- Xây dựng hệ thống vườn cây đầu dòng, để có đủ nguồn vật liệu sản xuất giống; nâng cao năng lực hệ thống sản xuất giống nhằm cung cấp đủ giống đúng tiêu chuẩn, phục vụ trồng sản xuất.
- Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn, phổ biến các tiến bộ kỹ thuật trong việc trồng, thu hái, bảo quản, chế biến sản phẩm mắc ca.
4. Kết luận
Diện tích mắc ca tại Đắk Lắk tính đến cuối năm 2024 ước đạt 5.000 ha, sản lượng đạt trên 10.000 tấn hạt/năm. Hiện có 19 giống mắc ca được trồng trên địa bàn, trong đó các giống trồng phổ biến là OC, QN1, A38, 695, 788, 842. Các giống cho năng suất hơn 10 kg hạt/cây/năm là: OC, QN1, A38, A268, 849 và 856
Lợi nhuận thu được từ 1 ha mắc ca từ năm thứ 7 trở đi biến động khá lớn, từ 94,4 triệu đồng đến 330,2 triệu đồng/ha/năm đối với vườn trồng thuần và đạt 42,5 triệu đồng đến 179,0 triệu đồng/ha/năm với vườn trồng xen.
Đặng Đinh Đức Phong, Trần Vinh, Đặng Thị Thùy Thảo
1 giờ trước
6 phút trước
5 phút trước
1 giờ trước
4 phút trước
13 phút trước
14 phút trước
14 phút trước
17 phút trước
19 phút trước
21 phút trước