🔍
Chuyên mục: Tài chính

Hàng trăm tỷ đồng 'bốc hơi': Doanh nghiệp Việt đối mặt bài toán giữ tiền trước áp lực nợ vay

2 giờ trước
Từ Vicem Hải Vân bị hủy niêm yết bắt buộc, Cảng Phước An lỗ hơn 500 tỷ đồng đến Thủy sản Minh Hải chìm sâu trong thua lỗ kéo dài, điểm chung là chi phí tài chính và lãi vay tăng cao. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp bách với doanh nghiệp Việt: quản trị rủi ro dòng tiền chặt chẽ hơn để tránh rơi vào vòng xoáy lỗ – nợ.
00:00
00:00

Trong một động thái gây chú ý vào hạ tuần tháng 1/2026, Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HoSE) thông báo về việc sẽ thực hiện hủy niêm yết bắt buộc với cổ phiếu của CTCP Xi măng Vicem Hải Vân (HVX). Trước đó, hôm 22/1/2026, HoSE nhận được công bố thông tin báo cáo kiểm toán năm 2025 của HVX với tình trạng lợi nhuận sau thuế âm 45,7 tỷ đồng. Và tính ra, doanh nghiệp (DN) này đã thua lỗ trong 3 năm liên tiếp 2023, 2024, 2025.

Lỗ đậm vì nặng gánh nợ vay

Cần nhắc lại, đơn vị kiểm toán chỉ ra tại ngày 31/12/2025, phía HVX có lỗ lũy kế và nợ ngắn hạn vượt quá tài sản ngắn hạn với số tiền lần lượt là 142 tỷ đồng và 147,85 tỷ đồng. Trong đó nợ phải trả Công ty mẹ - Tổng Công ty Xi măng Việt Nam và các đơn vị thành viên khoảng 135,26 tỷ đồng.

Do chi phí vốn vượt doanh thu, khoản lỗ sau thuế trong quý IV/2025 của CTCP Dầu khí Đầu tư Khai thác Cảng Phước An lên tới 125 tỷ đồng, tăng gấp 5,2 lần so với mức lỗ cùng kỳ năm trước.

Theo giới quan sát, một trong những nguyên nhân chính khiến cho công ty nêu trên thua lỗ liên tiếp trong 3 năm trở lại đây là do chi phí tài chính và nợ vay. Nhất là gánh nặng nợ vay và lãi vay cao tạo ra áp lực tài chính lớn, mặc dù DN đã có những nỗ lực giảm dư nợ. Đó còn là do chi phí sản xuất tăng khi giá vốn cao và chi phí quản lý tăng.

Ngoài HVX, trường hợp thua lỗ thứ hai phải kể đến CTCP Dầu khí Đầu tư Khai thác Cảng Phước An (PAP) vừa công bố báo cáo tài chính quý IV/2025 cho thấy khoản lỗ sau thuế trong quý IV lên tới 125 tỷ đồng, tăng gấp 5,2 lần so với mức lỗ gần 24 tỷ đồng của cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do chi phí vốn trong kỳ lại vượt doanh thu. Cùng với đó là gánh nặng từ các khoản chi phí khác tiếp tục gia tăng (trong đó chi phí tài chính lên tới 79 tỷ đồng, cùng chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp vẫn ở mức cao).

Tính cả năm 2025, mặc dù doanh thu thuần của PAP đạt 155 tỷ đồng, cao gấp khoảng 70 lần so với năm trước, nhưng do chi phí tăng nhanh hơn tốc độ tạo doanh thu đã khiến DN ghi nhận khoản lỗ sau thuế lên tới 504 tỷ đồng. Đây cũng là mức lỗ cao nhất trong lịch sử DN này. Trong đó, chi phí lãi vay tiếp tục là yếu tố gây áp lực lớn nhất, với tổng số phát sinh trong năm lên tới 277 tỷ đồng.

Trường hợp thua lỗ thứ ba là CTCP Chế biến Thủy sản xuất khẩu Minh Hải (JOS). Báo cáo cập nhật báo cáo tài chính quý IV/2025 được hé lộ trong tháng 1/2026 cho thấy lợi nhuận sau thuế đạt âm 177,55 tỷ đồng. Tính lũy kế cả năm 2025, mặc dù DN này có doanh thu đạt 50,21 tỷ đồng (tăng 30,05% so với cùng kỳ) nhưng lợi nhuận lũy kế đạt âm 189,48 tỷ đồng. Nguyên nhân lỗ đậm được cho là do chi phí tài chính tăng rất cao so với cùng kỳ.

Đây đã là năm lỗ thứ 14 liên tiếp của DN này, tổng lỗ lũy kế hơn 760 tỷ đồng. Nhiều năm qua, theo giới quan sát, bức tranh tài chính của JOS vẫn phủ màu ảm đạm. Việc tăng trưởng nhanh của công ty cũng khiến nợ vay và hàng tồn kho phình to. Chi phí lãi vay vẫn duy trì ở mức cao, khiến DN chìm trong thua lỗ.

Tình trạng tài chính sa sút kéo dài khiến JOS nhiều lần gặp khó trong việc đối chiếu, xác nhận số dư nợ gốc, lãi vay và lãi phạt chậm trả với các ngân hàng. Nhiều năm liền, công ty báo cáo tình trạng nợ quá hạn lớn, đây cũng là nguyên nhân chính khiến thua lỗ nối dài.

Nhìn vào 3 trường hợp như vậy để thấy đó là bài học cho DN Việt cần phải thận trọng “giữ tiền” để trong thời gian tới không phải rơi vào tình cảnh lỗ đậm.

“Gồng lỗ” hay “cắt lỗ”?

Nên lưu ý thêm, trong kết quả điều tra khảo sát được đưa ra mới đây của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) đối với xu hướng của các DN ngành công nghiệp chế biến chế tạo có chỉ rõ niềm tin của DN chưa thực sự vững chắc, khi vẫn chịu tác động bởi nhiều yếu tố bất lợi như chi phí sản xuất gia tăng, lãi suất vay vốn còn cao.

Điều này khiến cho DN vẫn duy trì tâm lý thận trọng trong quyết định mở rộng đầu tư và tuyển dụng lao động, trong bối cảnh sức cầu thị trường trong nước phục hồi chậm, mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Mặc dù vậy, theo kết quả khảo sát của Cục Thống kê, dự báo số lượng đơn đặt hàng mới quý I/2026 so với quý IV/2025 tăng với 80,9% DN dự báo tăng và giữ nguyên. Cùng với đó các DN dự báo số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới quý I/2026 khả quan hơn với 81,4% DN dự báo tăng và giữ nguyên.

Kết quả khảo sát đã phần nào phản ánh sự phục hồi từng bước của nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, trên bước đường phục hồi thì liệu các DN có vượt qua thách thức về áp lực tài chính?

Đáng chú ý, trong nhận định mới đây về ngành ngân hàng, Bộ phận phân tích thuộc Công ty chứng khoán VCBS có chỉ rõ rủi ro nợ xấu tiềm ẩn đối với hệ thống ngân hàng trong năm 2026.

Trên thực tế, nhìn lại năm 2025 vừa qua sẽ thấy để hỗ trợ DN trong giai đoạn khó khăn, ngành ngân hàng đã triển khai chủ trương cơ cấu lại nợ và giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư 02/2023, sau đó tiếp tục gia hạn bằng Thông tư 06/2023.

Cách làm này giống như mua thêm thời gian, giúp DN có cơ hội hồi phục và ngân hàng tránh phải đẩy nợ ra ngoại bảng ngay lập tức. Thế nhưng, một hệ quả khác của việc cơ cấu nợ kéo dài và chênh lệch kỳ hạn là rủi ro thanh khoản gia tăng.

Ngoài ra, xét thêm về câu chuyện “giữ tiền” của DN, trong buổi chia sẻ gần đây với các DN nhỏ và vừa trong mùa kinh doanh Tết Nguyên đán 2026, chuyên gia tài chính Nguyễn Thị Cẩm Chi, Giám đốc khối Phát triển bền vững, MCG Management Consulting, có lời khuyên cho họ là cần chuẩn bị sẵn phương án đòn bẩy tài chính.

“Chẳng hạn, nếu thấy chắc chắn mùa Tết có thể bán gấp 2–3 lần bình thường, DN nên tính toán vay vốn lưu động trong khả năng trả nợ, thay vì bỏ lỡ cơ hội vì thiếu tiền nhập hàng”, bà Cẩm Chi nói.

Vị chuyên gia này cho rằng nhiều chủ DN vẫn đang “đoán dòng tiền bằng cách nhìn số dư tài khoản”, trong khi dòng tiền chuẩn bị cho các bước đầu tư tiêu chuẩn 2026 cần được dự báo chi tiết, như doanh thu kỳ vọng, chi phí chính, lợi nhuận mục tiêu. Các DN cũng cần xác định rõ phần dành cho đầu tư chuẩn hóa (máy móc, chứng nhận, hệ thống truy xuất, đào tạo).

Và từ bài học thua lỗ do gia tăng chi phí và lãi vay, điều mong mỏi trong thời gian tới là DN Việt cần quản lý rủi ro chặt chẽ hơn nữa về dòng tiền, không phá vỡ các quy tắc đặt ra, như việc “gồng lỗ” thay vì “cắt lỗ” để “giữ tiền”, nhằm đảm bảo thoát khỏi tình hình tài chính sa sút.

Thế Vinh

TIN LIÊN QUAN



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ