🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Hải Phòng quy hoạch thúc đẩy ngành kinh tế mũi nhọn

2 giờ trước
Cùng với việc ưu tiên phát triển ba nhóm ngành kinh tế chủ lực, Hải Phòng cũng sẽ tập trung phục hồi những ngành công nghiệp truyền thống để đẩy tốc độ tăng trưởng lên hơn 13%...

Ngành dịch vụ logistics là một trong ba trụ cột kinh tế chủ yếu của Hải Phòng.

Thành phố Hải Phòng đã thống nhất quan điểm điều chỉnh quy hoạch chung thành phố thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050 nhằm giải quyết các khâu đột phá, phát triển các ngành kinh tế chủ lực, phát triển đô thị đa cực - đa trung tâm - đa hành lang - đa chuỗi giá trị, đưa GRDP giai đoạn 2026 - 2030 đạt 13,8%/ năm, sớm đưa thành phố cảng thành trung tâm kinh tế biển, du lịch, dịch vụ logistics.

ƯU TIÊN ba NHÓM NGÀNH KINH TẾ CHỦ LỰC

Theo đánh giá từ UBND TP. Hải Phòng, ba nhóm ngành kinh tế công nghiệp điện tử - công nghệ thông tin - công nghệ cao, dịch vụ cảng biển - logistics - thương mại quốc tế, thương mại và dịch vụ đô thị trong những năm qua (năm 2024) đã đóng góp trên 40% tổng GRDP.

Trong tổng số 37 ngành công nghiệp - xây dựng, lĩnh vực sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính, sản phẩm quang học có giá trị gia tăng lớn nhất, đạt 110.632 tỷ đồng (năm 2024), có tốc độ tăng trưởng đạt 30,85% (giai đoạn 2021- 2024), sử dụng tới 107.452 lao động (xếp thứ 2 và quy mô lao động sau ngành sản xuất trang phục).

Lĩnh vực này cũng thu hút nguồn lực FDI quy mô lớn, có sức lan tỏa mạnh mẽ như LG Electronics, LG Display, LG Innotek, Meiko Việt Nam, tạo ra cụm sản xuất R& D với quy mô lớn nhất miền Bắc, kéo theo chuỗi cung ứng, công nghiệp phụ trợ, logistics, đào tạo lao động kỹ thuật cao.

Ngành dịch vụ logistics với Cảng container quốc tế Lạch Huyện (cảng nước sâu duy nhất của miền Bắc) có sản lượng hơn 7,5 triệu TEU/năm, chiếm khoảng 40% sản lượng hàng hóa container cả nước và 60 - 65% lượng container toàn vùng đồng bằng sông Hồng. Với vị thế chiến lược mà không địa phương nào trong vùng có thể thay thế, dịch vụ cảng biển – logistics – thương mại quốc tế là ngành kinh tế có tốc độ giá trị gia tăng lớn nhất trong nhóm ngành dịch vụ.

Giá trị gia tăng của ngành dịch vụ cảng biển - logistics từ 54.095 tỷ đồng năm 2021 đã tăng lên thành 86.085 tỷ đồng vào năm 2025, chiếm từ 33,5- 35,4% giá trị gia tăng ngành dịch vụ. Tốc độ tăng trưởng chung của ngành này cũng đạt 10,5%/năm, cao hơn nhiều lần mặt bằng chung các ngành dịch vụ truyền thống.

Lĩnh vực thương mại và dịch vụ đô thị được xác định là ngành kinh tế năng động nhất khu vực dịch vụ. Năm 2025, đóng góp của 2 ngành này chiếm khoảng 22% tổng giá trị gia tăng lĩnh vực thương mại, dịch vụ, chiếm khoảng 7 - 8% GRDP, tạo việc làm cho khoảng 180.000 lao động (khoảng 15% tổng số lao động toàn thành phố). Doanh thu bán lẻ năm 2024 đạt tới 192.400 tỷ đồng, trong đó, tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ năm 2024 tăng 13,9% so với giai đoạn 2021- 2023, thương mại điện tử tăng 20%/năm.

Theo đánh giá từ UBND TP. Hải Phòng, giai đoạn 2021- 2024, các ngành chủ lực duy trì tốc tăng trưởng ổn định ở mức độ cao, bình quân hơn 10%/năm, thu hút khoảng 1/3 số lao động toàn thành phố, chiếm hơn 40% GRDP, có tác động lan tỏa mạnh, hình thành chuỗi giá trị công nghiệp – logistics - thương mại - dịch vụ - đô thị.

Nhờ đó, Hải Phòng đã tối ưu hóa lợi thế thành phố cảng, giai đoạn tới tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân từ 13- 14%/năm, sớm trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao, logistics, thương mại tự do hàng đầu phía Bắc.

NGÀNH KINH TẾ TRUYỀN THỐNG PHỤC HỒI

Giai đoạn trước, Hải Phòng có các ngành kinh tế truyền thống, từng giữ vai trò đáng kể về quy mô lao động, giá trị sản xuất như công nghiệp đóng tàu, cơ khí chế tạo, dệt may – da giày, vận tải biển truyền thống, nông nghiệp ven đô và khai thác hải sản. Ngành đóng tàu từng là biểu tượng công nghiệp, giữ vai trò then chốt trong cơ cấu nền kinh tế, từng đưa Hải Phòng trở thành trung tâm đóng tàu mạnh nhất cả nước trong thời gian dài đã bị suy giảm.

Đến năm 2024, ngành đóng tàu chỉ có giá trị gia tăng hơn 1.820 tỷ đồng, chiếm 0,51% tổng giá trị ngành công nghiệp - xây dựng của thành phố, xếp thấp nhất trong tổng số 15/15 ngành công nghiệp về giá trị gia tăng. Giai đoạn 2011 - 2024, tốc độ tăng trưởng của ngành đóng tàu chỉ đạt 3,34%/năm, số lao động chỉ còn 11.748 người, tương đương 1,4% số lao động ngành công nghiệp – xây dựng. Mặc dù vậy, giai đoạn 2021 - 2024, ngành công nghiệp đóng tàu đã có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng 30,8%/năm.

Tương tự, ngành dệt may và da giày, một trong số các trụ cột nền kinh tế trước đây cũng có những dấu hiệu chững lại về tăng trưởng. Cả giai đoạn 2011- 2024 ngành dệt may và da giày có tốc độ tăng trưởng bình quân 11,89% nhưng trong các năm 2021 - 2024, tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 1%/năm.

Trong khi cả nhóm ngành may mặc và da giày có tốc độ tăng trưởng chậm thì riêng lĩnh vực dệt may giai đoạn 2021 - 2024 lại có tốc độ tăng trưởng tới 17,3%. Do lĩnh vực dệt may có quy mô nhỏ trong cơ cấu nhóm ngành dệt may và da giày nên dù dệt may có sự tăng trưởng mạnh thì sự tăng trưởng cả nhóm ngành cũng không cao. Tuy nhiên, đây lại là tín hiệu cho thấy tiềm năng phát triển lĩnh vực dệt may còn rất lớn.

Đối với lĩnh vực logistics, trong khi nhóm ngành này giai đoạn 2021 -2025 có tốc độ tăng trưởng ổn định 10,5%/ năm thì ngành vận tải thủy truyền thống (vận tải pha sông biển) giai đoạn này chỉ đạt mức tăng trưởng 2,6%/ năm. Tốc độ tăng trưởng thấp của vận tải thủy trong chuỗi dịch vụ logistics cho thấy sự tụt lại đáng kể của lĩnh vực này.

Nguyên nhân được xác định do xu hướng vận tải hàng rời giảm mạnh, chuyển dịch từ vận tải hàng rời sang vận tải bằng container nên vận tải ven biển, pha sông biển không còn phù hợp với cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, hiện đại.

Lĩnh vực nông nghiệp - thủy sản truyền thống đóng vai trò đảm bảo sinh kế, giữ gìn hệ sinh thái cũng có sự sụt giảm tỷ trọng hàng hóa, lao động trong tổng GRDP. Giai đoạn 2021 - 2024, mỗi năm có khoảng 21.400 người (khoảng 9,52%) trong tổng số lao động nông lâm - thủy sản rời đi làm việc khác.

Sản lượng khai thác thủy sản, trụ cột kinh tế biển có tăng nhưng số lượng tàu khai thác thủy sản có dấu hiệu suy giảm từng năm. Do đội tàu khai thác giảm, những năm tới, sản lượng khai thác, đánh bắt thủy sản được dự báo không có mức tăng trưởng tốt.

Giá trị sản xuất nông nghiệp chỉ đạt trung bình 174,78 triệu/ ha dù cao hơn bình quân chung vùng đồng bằng sông Hồng nhưng chưa đáp ứng yêu cầu đạt từ 400 - 500 triệu đồng/ha cho nền nông nghiệp công nghệ cao. Giá trị gia tăng lĩnh vực này chiếm khoảng 17,67% tổng giá trị vùng đồng bằng sông Hồng nhưng tốc độ tăng trưởng bình quân chỉ đạt mức 2,6%/năm.

Theo UBND TP. Hải Phòng, đối với những ngành kinh tế truyền thống như đóng tàu, dệt may, những ngành có tín hiệu phục hồi mạnh, được quy hoạch, hoạch định các chính sách phù hợp, đầu tư đúng hướng như tái cấu trúc, xây dựng chuỗi cung ứng hỗ trợ hoàn chỉnh thì những ngành này, nhất là ngành đóng tàu sẽ trở lại vai trò chủ đạo trong phát triển công nghiệp – công nghiệp biển giai đoạn 2026 – 2030.

ĐƯA TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG LÊN HƠN 13%

Hải Phòng còn các nhóm ngành kinh kinh tế đặc trưng, mang bản sắc và sức mạnh “mềm” của đô thị biển như du lịch biển – đảo và du lịch nghỉ dưỡng, kinh tế biển, thủy sản bền vững, văn hóa thể thao, giải trí và ẩm thực đô thị cảng.

Ngoài ra, Hải Phòng cũng có các nhóm ngành kinh tế mới nổi, có tiềm năng tăng trưởng cao như công nghiệp công nghệ số - chuyển đổi số, năng lượng tái tạo - công nghiệp xanh, dịch vụ sáng tạo, tài chính số - công nghiệp nội dung số và nhóm ngành dịch vụ hỗ trợ liên kết chuỗi giá trị.

Trong đó, các ngành dịch vụ, hỗ trợ và liên kết chuỗi giá trị có độ lan tỏa cao như trung tâm dịch vụ hậu cần cảng (Tân Vũ, Nam Đình Vũ, Lạch Huyện), dịch vụ logistics Đình Vũ – Nam Đình Vũ đã hình thành mạng kết nối đa phương thức đường bộ, đường sắt, đường thủy, cảng biển cùng dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm có hiệu suất tăng trưởng ổn định từ 8 - 10%/ năm (cao hơn mức tăng trưởng bình quân cả nước khoảng 6,8%/ năm) đã có độ lan tỏa cao, tác động mạnh đến các ngành công nghiệp, thương mại, nông nghiệp.

Để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, hàng năm, Hải Phòng tiếp tục duy trì vốn đầu tư công trên 40% GRDP cho hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội nhằm tạo sự khác biệt về cấu trúc nền kinh tế so với nền kinh tế quốc gia.

Ngoài ra, Hải Phòng cũng thực hiện chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính, tăng hiệu quả quản lý đầu tư công, định hướng, thu hút vốn đầu tư FDI và hỗ trợ, thu hút vốn đầu tư toàn xã hội, thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng hiệu quả vốn đầu tư.

Từ những lợi thế trên, thành phố Hải Phòng kỳ vọng sẽ đưa tốc độ tăng vốn đầu tư từ 11,34 – 12,96% hiện nay sẽ đạt 13,12 – 15%/ năm trong giai đoạn 2026 – 2030. Chỉ số ICOR đang từ 3,90 - 4,17%/ năm hiện nay sẽ được kéo giảm xuống còn 3,26 - 3,73%/ năm trong giai đoạn tới.

Tổng mức đầu tư toàn xã hội tăng cao, các ngành kinh tế chủ lực, chủ đạo, các ngành kinh tế mới nổi còn nhiều dư địa phát triển, tối ưu hóa chỉ số sử dụng nguồn vốn. Giai đoạn tới, Hải Phòng có thể đạt mức tăng trưởng cao như tốc độ tăng trưởng GRDP từ 13,5 - 13,76%/năm, tăng trưởng công nghiệp từ 18,17- 18,57%, tăng trưởng dịch vụ từ 11,9 - 12,48%.

Nam Khánh - Đỗ Hoàng

TIN LIÊN QUAN































Home Icon VỀ TRANG CHỦ