Hà Nội xây dựng 'thước đo' cho công nghiệp văn hóa
Hình thành “bản đồ dữ liệu” cho 11 ngành công nghiệp văn hóa
Trong những năm gần đây, khái niệm công nghiệp văn hóa không còn xa lạ trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội. Từ điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, xuất bản, quảng cáo đến du lịch văn hóa, thiết kế sáng tạo hay công nghiệp nội dung số, các ngành công nghiệp văn hóa đang ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, thúc đẩy sáng tạo, gia tăng giá trị kinh tế và quảng bá hình ảnh Thủ đô.

Bà Bùi Thị Hương Thủy, Phó Trưởng phòng Quản lý di sản, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phát biểu tại hội thảo
Tuy nhiên, một câu hỏi luôn được đặt ra là: Công nghiệp văn hóa thực sự đóng góp bao nhiêu cho tăng trưởng kinh tế? Giá trị mà các ngành này tạo ra được đo lường như thế nào? Tác động lan tỏa của văn hóa đối với du lịch, đổi mới sáng tạo hay thương hiệu đô thị được phản ánh bằng những chỉ số nào?
Phát biểu đề dẫn hội thảo, bà Bùi Thị Hương Thủy, Phó Trưởng phòng Quản lý di sản, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội cho biết, công nghiệp văn hóa đã được xác định là một trong những động lực tăng trưởng mới của Thủ đô, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong việc phát huy bản sắc văn hóa, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của thành phố.
Tuy nhiên, muốn quản lý và phát triển hiệu quả thì trước hết phải đo lường được. Trong khi đó, Hà Nội hiện vẫn chưa có một hệ thống chỉ tiêu thống kê chuyên biệt đủ khả năng phản ánh đầy đủ quy mô, cơ cấu, hiệu quả và mức độ đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội.
Theo các chuyên gia, đây không chỉ là câu chuyện của riêng Hà Nội. Trên thế giới, việc thống kê công nghiệp văn hóa vốn là bài toán phức tạp bởi lĩnh vực này mang tính liên ngành cao, nhiều sản phẩm có giá trị vô hình và khó lượng hóa bằng các phương pháp thống kê truyền thống.
Chính vì vậy, việc xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê công nghiệp văn hóa được xem là bước đi quan trọng nhằm đưa các hoạt động sáng tạo, văn hóa vào hệ thống quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và bằng chứng khoa học.

Quang cảnh hội thảo
Theo dự thảo Đề án xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn Hà Nội, thành phố xác định 11 lĩnh vực trọng điểm gồm: Điện ảnh; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; nghệ thuật biểu diễn; phần mềm và trò chơi giải trí; quảng cáo; thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hóa; thiết kế sáng tạo; truyền hình và phát thanh; xuất bản; ẩm thực.
Đây cũng là điểm đặc biệt của Hà Nội khi trở thành địa phương duy nhất hiện nay lựa chọn 11 lĩnh vực công nghiệp văn hóa, trong đó đưa ẩm thực trở thành một ngành trọng điểm.
Bộ chỉ tiêu dự kiến gồm 95 chỉ tiêu, được thiết kế nhằm phản ánh toàn diện quy mô, hiệu quả và tác động của công nghiệp văn hóa đối với đời sống kinh tế - xã hội của Thủ đô.
Khác với các cách tiếp cận trước đây chỉ tập trung vào doanh thu hay số lượng cơ sở hoạt động, bộ chỉ tiêu mới hướng tới đo lường cả cung và cầu của thị trường văn hóa, đồng thời đánh giá cả những đóng góp trực tiếp lẫn tác động lan tỏa của công nghiệp văn hóa.
Theo dự thảo, 42 chỉ tiêu có thể triển khai ngay từ các nguồn dữ liệu hành chính sẵn có; 43 chỉ tiêu cần điều tra, khảo sát bổ sung; và 10 chỉ tiêu thí điểm phục vụ nghiên cứu chuyên sâu.
Một điểm mới đáng chú ý là đề án xây dựng khung nhận diện chi tiết cho từng ngành công nghiệp văn hóa theo hệ thống mã ngành kinh tế quốc dân VSIC 2018 và VSIC 2025.
Không chỉ thống kê khu vực chính thức, đề án còn đưa vào phạm vi đo lường các đối tượng thuộc khu vực kinh tế phi chính thức như nghệ sĩ tự do, nghệ nhân, hộ sản xuất cá thể – những chủ thể đang đóng góp đáng kể cho đời sống văn hóa nhưng lâu nay chưa được phản ánh đầy đủ trong các hệ thống số liệu.

Quang cảnh hội thảo
Nếu được triển khai hiệu quả, bộ chỉ tiêu sẽ tạo nên một “bản đồ dữ liệu” toàn diện về công nghiệp văn hóa Hà Nội, giúp cơ quan quản lý nhận diện chính xác những lĩnh vực có tiềm năng, những điểm nghẽn cần tháo gỡ cũng như xu hướng phát triển trong từng giai đoạn.
Một trong những nội dung được các đại biểu đặc biệt quan tâm tại hội thảo là vai trò của bộ chỉ tiêu trong công tác quản trị và hoạch định chính sách.
Theo các nghiên cứu được trình bày, bộ chỉ tiêu không đơn thuần là hệ thống số liệu thống kê mà còn là công cụ phục vụ quản lý nhà nước, đánh giá hiệu quả chính sách và hỗ trợ ra quyết định.
Các tham luận đã tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ, từ cơ sở lý luận, phương pháp luận đến giải pháp tổ chức thực hiện. Nhiều nghiên cứu tập trung làm rõ cách thức xác định giá trị tăng thêm của công nghiệp văn hóa, tỷ trọng đóng góp vào GRDP, năng suất lao động hay xây dựng chỉ số tổng hợp phản ánh sức mạnh của nền kinh tế sáng tạo.
Đáng chú ý, nhiều chuyên gia đề xuất mở rộng phạm vi đánh giá sang các tác động lan tỏa như ảnh hưởng của công nghiệp văn hóa đối với du lịch, việc làm, đổi mới sáng tạo, phát triển đô thị và thương hiệu thành phố.
Trong bối cảnh Hà Nội là thành viên của Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO, việc sở hữu một hệ thống dữ liệu đầy đủ và tin cậy sẽ giúp thành phố nâng cao năng lực quản trị, đồng thời có thêm cơ sở để so sánh, đánh giá và định vị vị thế của mình trong khu vực và trên thế giới.

TS Phạm Đăng Quyết, Hội Thống kê Việt Nam báo cáo tại hội thảo
Theo bà Bùi Thị Hương Thủy, mục tiêu sâu xa của đề án không phải là tạo ra thêm một bộ số liệu, mà là hình thành nền tảng dữ liệu tin cậy để Hà Nội có thể quản lý, điều hành và phát triển công nghiệp văn hóa dựa trên bằng chứng khoa học.
Hướng tới trung tâm dữ liệu công nghiệp văn hóa của cả nước
Dù nhận được sự đồng thuận cao, các chuyên gia cũng cho rằng quá trình xây dựng và triển khai Bộ chỉ tiêu thống kê công nghiệp văn hóa sẽ đối mặt với không ít khó khăn.
PGS.TS Nguyễn Đức Chiện, Phó Viện trưởng Viện Xã hội học và Tâm lý học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhận định, thách thức lớn nhất là bảo đảm tính khả thi và khả năng đo lường trong thực tiễn.
Theo ông, hệ thống chỉ tiêu không chỉ cần đáp ứng yêu cầu quản lý mà còn phải có khả năng tính toán, theo dõi ở nhiều cấp độ và nhiều mốc thời gian khác nhau để phục vụ công tác đánh giá, dự báo và hoạch định chính sách.
Điều đó đòi hỏi quá trình thí điểm phải được thực hiện nghiêm túc nhằm kiểm chứng độ tin cậy, tính khả thi và chi phí triển khai trước khi áp dụng chính thức.
Một thách thức khác là công tác phối hợp liên ngành. Dữ liệu liên quan đến công nghiệp văn hóa hiện đang phân tán ở nhiều cơ quan khác nhau như thuế, bảo hiểm xã hội, đăng ký kinh doanh, du lịch, văn hóa, truyền thông... Việc kết nối và liên thông các nguồn dữ liệu này đòi hỏi cơ chế phối hợp chặt chẽ và hạ tầng công nghệ đồng bộ.
Tại hội thảo, nhiều ý kiến cũng đề cập đến xu hướng ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số trong thống kê văn hóa – những phương pháp hiện đang được UNESCO, WIPO, Hàn Quốc, Anh và nhiều quốc gia áp dụng.

PGS.TS Trần Thị Ngọc Quyên, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu sáng tạo, Trường Đại học Ngoại thương trình bày tham luận tại hội thảo
Theo đó, Hà Nội cần sớm xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê công nghiệp văn hóa trên nền tảng số, phát triển trung tâm dữ liệu và bản đồ số công nghiệp văn hóa, đồng thời hình thành hệ thống báo cáo điện tử và cơ chế cập nhật dữ liệu thường xuyên.
Một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm tại hội thảo là việc Hà Nội lựa chọn ẩm thực là một trong 11 lĩnh vực công nghiệp văn hóa trọng điểm.
PGS.TS Trần Thị Ngọc Quyên, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu sáng tạo, Trường Đại học Ngoại thương cho rằng việc xây dựng bộ chỉ tiêu cần xuất phát từ mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa của Hà Nội để xác định những lĩnh vực trọng tâm và các chỉ số phù hợp.
Theo bà, việc đưa ẩm thực vào hệ thống công nghiệp văn hóa là một lựa chọn có ý nghĩa đặc biệt bởi đây là thế mạnh riêng của Hà Nội.
“Bộ chỉ tiêu cần phản ánh rõ vai trò và đóng góp của lĩnh vực ẩm thực đối với sự phát triển công nghiệp văn hóa của Thủ đô. Đây không chỉ là cơ sở để khẳng định giá trị của ẩm thực với Trung ương và các địa phương khác, mà còn góp phần xây dựng hình ảnh Hà Nội như một điểm đến hấp dẫn đối với du khách, doanh nghiệp và nhà đầu tư”, bà Quyên nhấn mạnh.
Theo các chuyên gia, nếu được đo lường và khai thác đúng mức, ẩm thực không chỉ là một sản phẩm du lịch mà còn có thể trở thành nguồn lực quan trọng để phát triển các không gian sáng tạo, xây dựng thương hiệu thành phố và tạo ra những sản phẩm văn hóa có giá trị gia tăng cao.

TS Nguyễn Thanh Liêm, nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê VN phát biểu tại hội thảo
Theo lộ trình được đề xuất, năm 2026 sẽ là giai đoạn chuẩn bị và thí điểm bộ chỉ tiêu. Từ năm 2027, hệ thống sẽ được áp dụng chính thức. Giai đoạn 2028 – 2030, Hà Nội hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm dữ liệu, nghiên cứu và phân tích công nghiệp văn hóa của cả nước, với tầm nhìn đến năm 2045.
Con đường phía trước còn nhiều việc phải làm, nhưng việc Hà Nội tiên phong xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê công nghiệp văn hóa cho thấy một cách tiếp cận mới trong phát triển văn hóa: Không chỉ dựa trên cảm nhận hay những đánh giá định tính, mà dựa trên dữ liệu, bằng chứng và các công cụ quản trị hiện đại.
Khi những giá trị sáng tạo được nhận diện đầy đủ và lượng hóa một cách khoa học, công nghiệp văn hóa sẽ có thêm cơ sở để khẳng định vị thế là một ngành kinh tế quan trọng. Và khi đó, văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn trở thành nguồn lực phát triển, một sức mạnh mềm được đo đếm và phát huy hiệu quả trong hành trình xây dựng Thủ đô sáng tạo, hiện đại và giàu bản sắc.
HÀ AN
3 giờ trước
4 giờ trước
22 phút trước
1 giờ trước
22 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước