🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Gỡ 'nút thắt' trong chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo

5 giờ trước
Sáng ngày 26/4, UBND tỉnh Cà Mau tổ chức hội thảo 'Kết nối sản xuất, tiêu thụ lúa gạo', nhằm làm sáng tỏ những 'nút thắt' trong chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa, gạo trong thời gian qua.

Sự kiện có sự tham gia của đại diện ngành nông nghiệp và môi trường Việt Nam, các nhà khoa học, lãnh đạo ngành nông nghiệp và môi trường các tỉnh, thành: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tây Ninh, cùng các doanh nghiệp, hợp tác xã trong, ngoài tỉnh.

Mô hình lúa - tôm tại xã Phước Long (Cà Mau).

Liên kết “4 nhà”

Ông Lê Văn Sử - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau cho biết, hội thảo diễn ra trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Toàn tỉnh Cà Mau hiện có tổng diện tích canh tác lúa hàng năm trên 185.000ha. Tổng sản lượng lúa bình quân đạt trên 1,8 triệu tấn/năm. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển ngành hàng lúa gạo theo hướng hàng hóa, quy mô lớn.

“Ngành lúa gạo giữ vai trò hết sức quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh. Đây không chỉ là ngành sản xuất chủ lực, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, mà còn gắn liền với sinh kế của đông đảo người dân, đặc biệt tại các vùng sản xuất tôm - lúa đặc thù. Những năm qua, tỉnh đã có nhiều nỗ lực nâng cao chất lượng, giá trị và thương hiệu hạt gạo, từng bước khẳng định vị thế trên thị trường”, ông Lê Văn Sử nhận định.

Theo ông Sử, đối với đề án phát triển bền vững 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, tỉnh Cà Mau đăng ký tham gia 54.680ha, trong đó vùng sản xuất lúa 2 - 3 vụ/năm 39.980ha và vùng tôm - lúa 14.700ha, với 20 xã, phường trọng điểm. Theo lộ trình, tỉnh đã chủ động chuẩn bị trong giai đoạn 2024 - 2025 và chính thức tham gia từ giai đoạn 2026 - 2030.

Đến tháng 3/2026, toàn tỉnh đã triển khai 1.380 ha mô hình, kết quả bước đầu cho thấy hiệu quả rõ rệt, nhờ đó chi phí giảm từ 2 - 3,5 triệu đồng/ha, năng suất tăng 0,3 - 0,5 tấn/ha và lợi nhuận tăng thêm 2 - 8 triệu đồng/ha so với phương thức canh tác truyền thống. Tuy nhiên, sản xuất và tiêu thụ lúa gạo vẫn còn những hạn chế như liên kết chuỗi chưa chặt chẽ, thị trường tiêu thụ chưa ổn định, giá trị gia tăng chưa cao, khả năng cạnh tranh còn hạn chế. Những vấn đề này đòi hỏi các giải pháp đồng bộ, căn cơ và lâu dài.

“Trong thời gian tới, tỉnh xác định phát triển ngành lúa gạo theo hướng bền vững, chất lượng cao, phát thải thấp và thích ứng biến đổi khí hậu. Trong đó, tập trung đẩy mạnh mô hình sản xuất sinh thái, đặc biệt là tôm - lúa. Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, có truy xuất nguồn gốc.

Và một trong những nhiệm vụ trọng tâm là thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị với sự tham gia của “4 nhà” gồm: Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nông dân. Trong đó, hợp tác xã giữ vai trò cầu nối tổ chức sản xuất, doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt thị trường, còn người nông dân là chủ thể sản xuất”, ông Sử cho biết.

Hội thảo “Kết nối sản xuất, tiêu thụ lúa gạo”, nhằm làm sáng tỏ những “nút thắt” trong chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa, gạo trong thời gian qua.

Bên cạnh việc sản xuất, ông Sử cho rằng việc mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao thương hiệu gạo Cà Mau là yêu cầu cấp thiết. Tỉnh sẽ tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp ký kết hợp đồng bao tiêu, phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu và cam kết luôn đồng hành cùng doanh nghiệp, hợp tác xã và bà con nông dân. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ cơ chế, chính sách nhằm phát triển ngành hàng lúa gạo theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.

6 nhóm giải pháp

Tại hội thảo, TS Trần Minh Hải - Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chia sẻ, trong suốt nhiều năm qua, nền nông nghiệp Việt Nam luôn phải đối mặt với nghịch lý cố hữu là điệp khúc “được mùa, rớt giá”. Nỗi lo thường trực về chi phí đầu vào tăng cao và thiên tai, dịch bệnh. Tình trạng người nông dân thừa nông sản trong khi doanh nghiệp lại thiếu nguyên liệu đạt chuẩn.

TS Trần Minh Hải cho rằng, nguyên nhân sâu xa đến từ phương thức sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, thiếu liên kết và chưa thực sự gắn kết với tín hiệu thị trường. Trong bối cảnh đó, phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị theo hình thức hợp tác giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp đã trở thành xu thế tất yếu và là lời giải căn cơ cho bài toán phát triển nông nghiệp bền vững.

Theo ông Hải, từ ngày sau khi hợp nhất, trở thành tỉnh Cà Mau mới thì địa phương dẫn đầu cả nước về ngành hàng tôm, với diện tích canh tác lúa khoảng 312.000ha, diện tích nuôi trồng thủy sản khoảng 450.900ha, sản lượng tôm khoảng 566.000 tấn/năm và kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 2,48 tỷ USD. Toàn tỉnh hiện có khoảng 93.000ha canh tác lúa - tôm với hàng trăm ha sản xuất theo tiêu chuẩn “lúa thơm - tôm sạch” đạt các chứng nhận quốc tế như BAP, ASC, GlobalGAP. Tuy nhiên, kết quả triển khai Nghị định 98 trên thực tế còn nhiều hạn chế: công tác tuyên truyền chính sách chưa sâu rộng; quy trình, thủ tục, hồ sơ thực hiện hỗ trợ còn rườm rà.

Toàn tỉnh Cà Mau hiện có khoảng 93.000ha canh tác lúa - tôm với hàng trăm ha sản xuất theo tiêu chuẩn “lúa thơm - tôm sạch” đạt các chứng nhận quốc tế.

Từ những hạn chế trên, TS Trần Minh Hải đề xuất 6 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp theo hướng bền vững, hiệu quả đó là: khẩn trương hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách sau sáp nhập. Tận dụng hiệu quả khung chính sách giai đoạn 2026 - 2030 để tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, xác định rõ dự án ưu tiên và đẩy nhanh tiến độ giải ngân sẽ tạo động lực quan trọng cho các mô hình liên kết phát triển.

Cần quy hoạch và phát triển chuỗi liên kết theo lợi thế từng vùng, mỗi khu vực nên tập trung vào những ngành hàng đặc thù như lúa chất lượng cao, tôm - rừng, tôm công nghệ cao hay các sản phẩm đặc sản địa phương, qua đó nâng cao giá trị và khả năng cạnh tranh.

Xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật cho các ngành hàng đặc thù là giải pháp căn cơ, giúp các sản phẩm địa phương đủ điều kiện tham gia các dự án liên kết một cách bài bản, đáp ứng yêu cầu thị trường. Nâng cao năng lực cho hợp tác xã - chủ thể trung tâm của chuỗi liên kết. Giải quyết tình trạng “bẻ kèo” và đẩy mạnh chuyển đổi số.

Việc chuẩn hóa hợp đồng liên kết, áp dụng bảo hiểm nông nghiệp, truy xuất nguồn gốc và ứng dụng công nghệ sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch và ổn định của chuỗi. Trong đó, một vấn đề đặt ra là phải xác định rõ vai trò trung tâm của hợp tác xã trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Đồng thời, phát huy vai trò chủ động của chính quyền cấp xã trong tổ chức thực hiện. Tăng cường sự đồng hành của các đơn vị tư vấn, hỗ trợ kết nối cung - cầu và đào tạo nguồn nhân lực.

Việt Sử

TIN LIÊN QUAN





























Home Icon VỀ TRANG CHỦ