🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Gỡ 'nút thắt' mã số vùng trồng, mở đường cho nông sản Việt bứt phá

1 giờ trước
Nghị quyết 36 mở ra bước cải cách mạnh trong cấp mã số vùng trồng, đẩy nhanh số hóa, giảm thủ tục và tạo nền tảng truy xuất nguồn gốc, nâng sức cạnh tranh nông sản Việt.

Quang cảnh hội nghị

Nhiều điểm đổi mới trong cấp mã số vùng trồng

Ngày 4/8/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị triển khai thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm đưa các quy định mới nhanh chóng đi vào thực tiễn, tạo chuyển biến trong quản lý vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu.

Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, Bộ đang khẩn trương phối hợp với các bộ, ngành và địa phương sửa đổi Nghị định số 38 về quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc nông sản. Theo chỉ đạo của Chính phủ, Nghị định sửa đổi sẽ được hoàn thiện, trình Chính phủ và ban hành trong tháng 9/2026.

Theo Thứ trưởng, Nghị quyết 36 tập trung xử lý những vướng mắc cấp bách, trước hết là đơn giản hóa thủ tục hành chính và đổi mới phương thức quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

"Mục tiêu cuối cùng của Nghị quyết 36 là nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam, xây dựng thương hiệu chung cho nông sản Việt Nam và tạo môi trường hành chính thông thoáng, minh bạch hơn", Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh.

Ông cũng cho biết, nhiều nội dung mang tính tổng thể sẽ tiếp tục được hoàn thiện trong Nghị định 38 sửa đổi, trong khi Nghị quyết 36 đóng vai trò là giải pháp trước mắt nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu nông sản.

Theo ông Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), điểm đột phá đầu tiên của Nghị quyết 36 là toàn bộ thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói sẽ được thực hiện trên môi trường điện tử thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Tổ chức, cá nhân thực hiện theo nguyên tắc tự kê khai và tự chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp, giúp rút ngắn thời gian xử lý, nâng cao hiệu quả quản lý và tăng tính công khai, minh bạch.

Điểm mới thứ hai là chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm theo mức độ rủi ro. Theo đó, tiền kiểm chỉ áp dụng đối với những thị trường hoặc quốc gia nhập khẩu có yêu cầu bắt buộc, còn các trường hợp khác sẽ thực hiện hậu kiểm. Đáng chú ý, trong vòng 3 tháng kể từ khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan quản lý phải hoàn thành việc kiểm tra, hậu kiểm và trả lời kết quả cho tổ chức, cá nhân.

Điểm đổi mới thứ ba là khuyến khích hình thành các vùng sản xuất quy mô lớn nhằm xây dựng thương hiệu chung cho nông sản Việt Nam và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu.

Theo ông Huỳnh Tấn Đạt, cần phân biệt rõ giữa việc được cấp mã số vùng trồng và điều kiện xuất khẩu. Mã số vùng trồng là yêu cầu gắn với quy định kiểm dịch thực vật và điều kiện nhập khẩu của từng quốc gia, song việc mã số có được sử dụng để xuất khẩu hay không còn phụ thuộc vào quy định và cơ chế công nhận của từng thị trường.

Ở góc độ chuyển đổi số, ông Nguyễn Thanh Tùng, Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, quy trình điện tử mới không chỉ số hóa thủ tục hành chính mà còn thay đổi phương thức quản lý. Người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chỉ cần sử dụng tài khoản VNeID để thực hiện thủ tục trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Hệ thống sẽ tự động chuyển hồ sơ đến đúng cơ quan chuyên môn cấp xã để xử lý và phân loại theo từng nhóm thủ tục như cấp mới, cấp lại hoặc bổ sung thị trường xuất khẩu.

Theo các chuyên gia, việc xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về vùng trồng trên phạm vi cả nước sẽ tạo nền tảng quan trọng cho truy xuất nguồn gốc, nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng và đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu.

Tăng phân cấp, giảm thủ tục, nâng trách nhiệm

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, mục tiêu cốt lõi của Nghị quyết số 36 là đơn giản hóa thủ tục hành chính gắn với nâng cao tính minh bạch trong quản lý mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói.

Ông Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phát biểu tại hội nghị

Việc số hóa toàn bộ quy trình và tinh giản hồ sơ giúp thời gian cấp mã đối với trường hợp không trực tiếp tham gia xuất khẩu giảm tới 78%, trong khi các mã phục vụ xuất khẩu giảm khoảng 35%. Tổng số hồ sơ, giấy tờ phải nộp giảm trên 50%, góp phần tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.

Theo Thứ trưởng, mục tiêu của chính sách không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc thống nhất cho toàn ngành nông nghiệp. "Không phải chỉ sầu riêng hay cà phê mới cần cấp mã số vùng trồng. Mục tiêu là tất cả cây trồng đều có thể truy xuất nguồn gốc, kể cả một luống rau cũng phải xác định được người sản xuất và chịu trách nhiệm về chất lượng", ông nhấn mạnh.

Một điểm mới đáng chú ý là phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp quản lý. Theo đó, UBND cấp xã được giao trực tiếp cấp mã số vùng trồng, thay vì chỉ thực hiện theo phân cấp của cấp tỉnh như trước. Đối với cơ quan chuyên môn, Nghị quyết không quy định cứng là Sở Nông nghiệp và Môi trường mà cho phép địa phương chủ động bố trí đơn vị phù hợp với mô hình tổ chức.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, việc phân cấp chỉ phát huy hiệu quả khi toàn bộ hệ thống, từ cấp tỉnh, cấp xã đến người dân, thống nhất nhận thức và cách triển khai. Vì vậy, Bộ đề nghị các địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến những điểm mới của Nghị quyết, đồng thời làm rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý cũng như trách nhiệm tự kê khai, tự chịu trách nhiệm của tổ chức, cá nhân.

Để đẩy nhanh tiến độ cấp mã số vùng trồng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các địa phương, nhất là vùng sản xuất trọng điểm, xây dựng các kế hoạch và đợt cao điểm triển khai. Trước mắt, Bộ sẽ phối hợp thực hiện tại Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng, đồng thời khuyến khích Sơn La và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long chủ động triển khai, với sự hỗ trợ trực tiếp từ các đơn vị chuyên môn.

Song song đó, Bộ sẽ hoàn thiện hệ thống tài liệu hướng dẫn dưới nhiều hình thức như sổ tay giấy, sổ tay điện tử và video, giúp cán bộ cơ sở, hợp tác xã và nông dân nắm vững quy trình cấp mã số vùng trồng, kỹ thuật sản xuất an toàn, kiểm soát dư lượng và đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu.

Đặc biệt, hệ thống khuyến nông được xác định là lực lượng nòng cốt trong quá trình triển khai. Hiện cả nước có khoảng 50.000 cán bộ khuyến nông đang hoạt động tại các trung tâm và tổ khuyến nông cộng đồng, trực tiếp hỗ trợ người dân hoàn thiện hồ sơ, áp dụng quy trình sản xuất và sử dụng nền tảng số. Bộ cũng khuyến khích huy động thêm thanh niên tình nguyện, sinh viên tham gia hỗ trợ người dân tại các vùng sản xuất tập trung.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, cấp mã số vùng trồng không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt của hoạt động xuất khẩu mà còn tạo nền tảng xây dựng cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc trên phạm vi toàn quốc. Khi toàn bộ vùng trồng và cơ sở đóng gói được quản lý bằng dữ liệu số, chất lượng nông sản sẽ được giám sát minh bạch hơn, góp phần nâng cao uy tín và năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

Hà Sơn

TIN LIÊN QUAN





























Home Icon VỀ TRANG CHỦ