Giữ vững 'nguyên tắc sống còn' của Đảng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Tuy nhiên, thời gian qua, một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên đã vi phạm nguyên tắc này, làm suy giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Bài viết trình bày một số vấn đề lý luận và thực tiễn; đề xuất các giải pháp giữ vững “nguyên tắc sống còn” của Đảng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tập trung dân chủ - Nguyên tắc cốt lõi của Đảng Cộng sản.
Quá trình tôi luyện trong nền đại công nghiệp, cùng với sự đồng nhất về lợi ích chính trị, kinh tế và lý tưởng, giai cấp công nhân đã hình thành những phẩm chất cốt lõi: tính thống nhất tập thể, tính kỷ luật và tinh thần dân chủ. C.Mác gọi đó là cái “vốn có” của họ. Với vai trò là đội tiên phong và bộ tổng tham mưu chiến đấu được tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản là nơi hội tụ rõ nét nhất bản chất giai cấp. Chính vì vậy, Đảng phải được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đó là điều tất yếu.

Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự thống nhất biện chứng giữa tập trung và dân chủ, trong đó tập trung dựa trên nền tảng dân chủ, dân chủ đặt dưới sự lãnh đạo của tập trung (hai yếu tố này luôn gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời). Bởi, tập trung trên cơ sở dân chủ vừa là kết quả của quyết định dân chủ, vừa nhằm thực thi nền dân chủ đó.
Như, V.I. Lêninđã khẳng định: “Cần phải hiểu rõ rằng chế độ tập trung dân chủ, một mặt, thật khác xa chế độ tập trung quan liêu chủ nghĩa, và, mặt khác, thật khác xa chủ nghĩa vô chính phủ”.
Cần khẳng định rằng, tuân thủ nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ chính là phương thức hữu hiệu để quản lý, giáo dục và rèn luyện đội ngũ đảng viên, duy trì kỷ luật nghiêm minh; đồng thời, sàng lọc, loại bỏ những kẻ cơ hội, xét lại, vô chính phủ len lỏi vào Đảng, cũng như các phần tử thoái hóa, biến chất có hành vi phá hoại Đảng, như V.I. Lênin đòi hỏi “các đảng gia nhập Quốc tế Cộng sản phải được xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ”.
Thực tiễn lịch sử đấu tranh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã chứng minh rằng: kiên trì nguyên tắc tập trung dân chủ chính là một bộ phận cấu thành của cuộc đấu tranh giữa lực lượng cộng sản với giai cấp tư sản và các đối tượng cơ hội, xét lại. Đây là yếu tố quyết định sự tồn vong của Đảng Cộng sản, cũng như thành bại của cách mạng vô sản. Bất kỳ Đảng nào phủ nhận, xa rời hay vi phạm nguyên tắc này đều sẽ dẫn đến suy yếu ý chí, chia rẽ sức mạnh, phân liệt và cuối cùng là tan rã.
Nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng Cộng sản Việt Nam
Là người sáng lập, dìu dắt và tôi luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc nhận thức đúng đắn và thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ. Người đặt ra yêu cầu: “Đảng phải giữ vững chế độ dân chủ tập trung”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều thời gian phân tích về cách làm việc tập thể, cá nhân phụ trách, về tự phê bình và phê bình, về các biện pháp thực hiện chế độ dân chủ tập trung. Đặc biệt, Người cho rằng: thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là phương thuốc hữu hiệu để ngăn ngừa, khắc phục bệnh cửa quyền, tham ô, quan liêu, thoái hóa, biến chất; đồng thời, khẳng định: “Muốn chống tham ô lãng phí, chống quan liêu thì phải dân chủ, gây tự phê bình và phê bình, làm cho mọi người biết tự phê bình mình và dám phê bình người,... phải để cho người phụ trách thấy, để quần chúng thấy, thì tham ô lãng phí không thể nảy nở được”.
Lấy cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định nguyên tắc tập trung dân chủ là nền tảng tổ chức, bao trùm toàn bộ hoạt động, sinh hoạt và phương thức lãnh đạo của Đảng. Trong tiến trình phát triển, nguyên tắc này không ngừng được cụ thể hóa bằng các quy định, quy chế và cơ chế vận hành ngày càng hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Quán triệt và chấp hành nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ chính là yếu tố đảm bảo sự nhất trí về ý chí và hành động trong toàn Đảng, từ đó giúp kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực lãnh đạo và sức mạnh chiến đấu. Đồng thời, đây cũng là cơ chế hữu hiệu để ngăn ngừa cả hai khuynh hướng lệch lạc: tập trung quan liêu, áp đặt và dân chủ cực đoan, tùy tiện, gây chia rẽ nội bộ.
Đảng kiên quyết bác bỏ mọi quan điểm phủ nhận hoặc làm sai lệch nguyên tắc này, bởi bất kỳ sự xa rời nào cũng đồng nghĩa với việc làm suy yếu nền tảng tổ chức, tạo kẽ hở cho các biểu hiện cơ hội, bè phái phát sinh, thậm chí đe dọa sự tồn tại của Đảng. Vì vậy, thực hiện đúng và hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ luôn được xác định là điều kiện căn bản để Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội, đồng thời là yêu cầu thường xuyên, nhất quán trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Trong công cuộc đổi mới và đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta luôn vững vàng thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, đảm bảo sự hài hòa giữa dân chủ và tập trung trong lãnh đạo cũng như tổ chức thực hiện nhiệm vụ; từ đó củng cố bộ máy, tăng cường năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Đồng thời, Đảng đặc biệt chú trọng phòng ngừa, đấu tranh với các biểu hiện vi phạm nguyên tắc, bởi nhận thức rõ rằng sự buông lỏng kỷ luật, kỷ cương sẽ làm suy yếu Đảng và giảm sút niềm tin của nhân dân. Trước yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bảo vệ Tổ quốc, Đảng xác định việc giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo gắn với cá nhân phụ trách, tăng cường tự phê bình và phê bình là những nội dung cơ bản, cấp bách trong công tác xây dựng Đảng.
Kết quả thực hiện trong thời gian qua, như đã được chỉ rõ tại Đại hội XIV của Đảng, cho thấy công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng được tiến hành toàn diện, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động; trong đó, nguyên tắc tập trung dân chủ về cơ bản được tuân thủ nghiêm túc, góp phần củng cố đoàn kết, thống nhất và nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng.
Thực trạng, nguyên nhân vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ
Việc thực hiện nghiêm minh “nguyên tắc nền tảng mang tính sống còn” của Đảng trong thời gian qua chính là điều kiện căn bản để kiến tạo Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đồng thời góp phần hạn chế, đẩy lùi sự lạm quyền, độc đoán và thoái hóa quyền lực trong hàng ngũ lãnh đạo. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng vi phạm nguyên tắc “tập trung dân chủ” còn tồn tại, chưa được khắc phục triệt để.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã chỉ rõ: “Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Tự phê bình và phê bình ở không ít tổ chức đảng chưa khắc phục được tình trạng hình thức, nể nang, né tránh, ngại va chạm”.
Chỉ trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, “đã kỷ luật 17.808 công chức, viên chức; cho nghỉ việc, thôi việc 10.880 người; cho từ chức, miễn nhiệm, thôi giữ chức vụ đối với 94 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 7 Ủy viên Bộ Chính trị, 1 Ủy viên Ban Bí thư và 18 Ủy viên Trung ương Đảng, có cả lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, trên 1.000 cán bộ diện ban thường vụ, ủy viên ban chấp hành cấp ủy cấp tỉnh.”
Trong số cán bộ bị xử lý kỷ luật, có không ít trường hợp vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, ảnh hưởng tới vai trò, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; suy giảm tình cảm, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.
Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ có nhiều dạng thức khác nhau, tuy nhiên, điểm nhấn quan trọng là sự lệch chuẩn trong cách kết hợp giữa tập trung và dân chủ. Ở một số nơi, cơ chế tập thể bị biến thành “vỏ bọc hình thức”, bị lợi dụng để hợp thức hóa ý chí cá nhân, từ đó nảy sinh lối lãnh đạo áp đặt, gia trưởng, làm suy giảm thực chất của dân chủ trong Đảng.
Thực trạng này tồn tại do sự cộng hưởng của nhiều yếu tố: từ tâm lý nể nang, xuê xoa, thiếu đấu tranh trong nội bộ; đến biểu hiện ngại va chạm, “đồng thuận hình thức”, né tránh trách nhiệm; thậm chí bị chi phối bởi động cơ lợi ích cục bộ. Hệ quả là ở một số cấp ủy, tập thể lãnh đạo không còn giữ được vai trò điều tiết, định hướng, mà bị lệ thuộc vào ý chí của cá nhân chủ trì.
Thực tiễn cho thấy, không ít quyết định của ban thường vụ, cấp ủy chưa được thảo luận đầy đủ, thiếu phản biện đa chiều, dẫn đến khi triển khai hoặc kém hiệu quả, hoặc bị chi phối bởi lợi ích không minh bạch, gây ra những hệ lụy đáng lo ngại cả về chất lượng lãnh đạo lẫn niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

Đáng quan ngại là ở một số nơi, việc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ không còn dừng ở những biểu hiện cục bộ, nhất thời mà đã trở thành sai phạm có tính hệ thống, kéo dài, làm xói mòn sự đoàn kết nội bộ và gây phản ứng tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng như trong xã hội. Mức độ và phạm vi vi phạm cho thấy đây không phải là hiện tượng cá biệt, mà đã lan rộng qua nhiều cấp, nhiều lĩnh vực.
Thực tế cho thấy, các sai phạm liên quan đến nguyên tắc này xuất hiện ở nhiều tầng nấc lãnh đạo, từ cán bộ cấp cao đến người đứng đầu ở cơ sở; từ những người đang đương chức đến cả những trường hợp đã nghỉ công tác nhưng vi phạm diễn ra trong thời gian đảm nhiệm chức vụ. Không chỉ dừng lại ở những tổ chức đảng cơ sở, nơi thường chịu tác động bởi hạn chế về trình độ và kinh nghiệm, mà còn xảy ra ở các cấp ủy, ban thường vụ cấp huyện (trước đây), cấp tỉnh và cả ở một số cơ quan, đơn vị thuộc Trung ương.
Các kết luận kiểm tra, giám sát được công bố chính thức cùng với những thông tin phản ánh trên các phương tiện truyền thông thời gian qua đã phác họa khá rõ một thực trạng đáng suy nghĩ: khi nguyên tắc tổ chức nền tảng không được quán triệt và thực thi nghiêm túc, hệ quả không chỉ dừng lại ở những sai phạm mang tính cá nhân, mà còn lan rộng, tác động trực tiếp đến chất lượng vận hành của cả hệ thống tổ chức đảng. Sâu xa hơn, sự buông lỏng hoặc thực hiện lệch chuẩn nguyên tắc tập trung dân chủ làm suy giảm cơ chế kiểm soát quyền lực nội bộ – vốn là “lá chắn” quan trọng ngăn ngừa sai phạm. Khi dân chủ không được thực hành thực chất, các kênh phản biện bị thu hẹp, quyết định lãnh đạo dễ rơi vào tình trạng chủ quan, thiếu kiểm chứng; ngược lại, khi kỷ luật, kỷ cương không được bảo đảm, sự thống nhất trong hành động bị phá vỡ, làm giảm hiệu lực tổ chức thực hiện.
Hai chiều lệch này, dù biểu hiện khác nhau, nhưng đều dẫn đến một hệ quả chung: làm suy yếu năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Về lâu dài, những tác động đó không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi nhiệm vụ chính trị, mà còn bào mòn niềm tin – yếu tố nền tảng tạo nên uy tín và tính chính danh của Đảng. Đây chính là nguy cơ đáng lo ngại nhất, bởi một khi nguyên tắc tổ chức bị xói mòn từ bên trong, thì sự suy giảm không diễn ra đột ngột, mà âm thầm, tích tụ và để lại hệ lụy sâu rộng, khó khắc phục.
Một nguyên nhân khác dẫn đến những vi phạm tập trung dân chủ là do ý thức tổ chức và kỷ luật của một số cán bộ, đảng viên bị buông lỏng. Chính sự tùy tiện trong hành động, không tuân thủ nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước đã làm xói mòn tính thống nhất và kỷ cương trong tổ chức. Ở một số nơi, kỷ luật, kỷ cương chưa được duy trì thường xuyên, thiếu tính răn đe, dẫn tới việc nguyên tắc bị xem nhẹ trong thực tiễn. Đồng thời, thực hành dân chủ vẫn mang tính chiếu lệ. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng cùng cán bộ lãnh đạo, chủ trì chưa thực sự coi trọng và phát huy quyền làm chủ của đảng viên; việc lắng nghe, tiếp thu ý kiến từ cơ sở còn nặng về thủ tục, thiếu chiều sâu. Điều này dẫn đến hai khuynh hướng lệch chuẩn: hoặc áp đặt, gia trưởng, làm triệt tiêu dân chủ; hoặc dân chủ hình thức, thiếu tranh luận và phản biện, khiến tập thể không phát huy được vai trò thực chất.
Một nguyên nhân quan trọng khác, là do hệ thống quy chế, quy định cụ thể để hiện thực hóa nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số lĩnh vực còn thiếu đồng bộ, chưa rõ ràng, đặc biệt trong việc phân định trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân. Việc thực hiện “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” ở nhiều nơi còn lúng túng, dẫn tới tình trạng khi xảy ra sai sót thì trách nhiệm bị phân tán, không được xác định cụ thể, làm giảm hiệu lực kiểm soát và xử lý vi phạm. Tổng hợp các yếu tố trên cho thấy, hạn chế trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ là vấn đề nhận thức, mà còn là vấn đề kỷ luật tổ chức, cơ chế vận hành và trách nhiệm cá nhân – những khâu then chốt quyết định hiệu quả thực thi trong thực tiễn.
Giữ vững “nguyên tắc sống còn” của Đảng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, những yêu cầu về năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ngày càng được đặt ra ở mức độ cao hơn. Theo đó, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ dừng lại ở yêu cầu “đúng” về mặt nguyên tắc, mà còn phải đạt đến mức “hiệu quả” và “thực chất” trong vận hành.
Sự phát triển nhanh, phức tạp của thực tiễn đòi hỏi các quyết định lãnh đạo phải vừa bảo đảm tính kịp thời, thống nhất, vừa dựa trên nền tảng trí tuệ tập thể, thông tin đa chiều và phản biện chất lượng - điều chỉ có thể đạt được khi dân chủ trong Đảng được phát huy thực chất, gắn chặt với kỷ luật, kỷ cương nghiêm minh.
Kỷ nguyên vươn mình cũng làm gia tăng yêu cầu kiểm soát quyền lực và phòng, chống suy thoái, tiêu cực. Khi quyền lực tập trung hơn để đáp ứng yêu cầu điều hành nhanh, hiệu quả, thì nguy cơ lạm quyền, tha hóa quyền lực cũng lớn hơn nếu thiếu cơ chế kiểm soát nội bộ hữu hiệu. Trong bối cảnh đó, tập trung dân chủ chính là “cơ chế tự điều chỉnh” của Đảng, bảo đảm quyền lực được vận hành trong khuôn khổ, được giám sát bằng dân chủ và được thực thi bằng kỷ luật.
Sự phát triển của xã hội thông tin và yêu cầu minh bạch hóa ngày càng cao cũng đặt ra đòi hỏi phải nâng tầm thực hành dân chủ trong Đảng, khắc phục tình trạng hình thức, “dân chủ xuôi chiều”. Đảng không chỉ lãnh đạo bằng chủ trương đúng, mà còn bằng phương thức lãnh đạo khoa học, trong đó mọi quyết định phải được cân nhắc trên cơ sở lắng nghe, tiếp thu ý kiến đa chiều, đồng thời bảo đảm sự thống nhất trong tổ chức thực hiện.
Giai đoạn đầu của việc tinh gọn hệ thống chính trị kéo theo phân cấp chưa rõ ràng, có thể khiến cấp dưới bị “tước quyền chủ động” trong khi vẫn phải chịu trách nhiệm, làm biến dạng nguyên tắc. Do vậy, cần đề cao nguyên tắc quyền lực tập trung nhưng phải được kiểm soát chặt chẽ, đồng thời mở rộng dân chủ dưới hình thức phù hợp với bộ máy tinh gọn.
Các thế lực phản động, thù địch thường xuyên tìm cách chống phá nguyên tắc tập trung dân chủ với nhiều thủ đoạn tinh vi, nhằm gây chia rẽ nội bộ, làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Theo đó, cần làm rõ bản chất khoa học và ưu việt của nguyên tắc tập trung dân chủ; tăng cường kiểm soát quyền lực, không để “tham nhũng quyền lực”, tạo cớ cho kẻ thù lợi dụng chống phá.
Như vậy, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ là “nguyên tắc tổ chức”, mà trở thành yêu cầu về năng lực cầm quyền hiện đại: vừa bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, vừa phát huy cao nhất trí tuệ, trách nhiệm và tính chủ động của toàn Đảng. Đây chính là điều kiện để Đảng nâng cao chất lượng quyết sách, củng cố niềm tin và dẫn dắt sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Để thực hiện đạt hiệu quả, chiều sâu vững chắc cần tiến hành đồng bộ các giải pháp trọng tâm:
Một là, nâng cao nhận thức gắn với năng lực thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ trong toàn Đảng.
Đây không chỉ là giải pháp nền tảng, mà là khâu “khởi phát” quyết định hiệu quả thực thi nguyên tắc trong thực tiễn. Bởi, vấn đề không đơn thuần ở việc“hiểu đúng”, mà phải chuyển hóa thành năng lực vận hành nguyên tắc trong từng tình huống cụ thể của hoạt động lãnh đạo, chỉ huy. Thực tế cho thấy, không ít sai phạm không xuất phát từ thiếu quy định, mà từ nhận thức phiến diện, vận dụng giản đơn hoặc cố tình làm sai nguyên tắc. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức cần được triển khai theo hướng thực chất, gắn lý luận với tình huống thực tiễn, làm rõ ranh giới giữa dân chủ với tùy tiện, giữa tập trung với áp đặt, từ đó hình thành tư duy tổ chức đúng đắn cho cán bộ, đảng viên.
Các cấp ủy, tổ chức đảng cần đổi mới nội dung, phương thức giáo dục, quán triệt theo hướng ngắn gọn, thiết thực, dễ vận dụng, gắn với những vấn đề nổi lên trong thực tiễn, nhất là các biểu hiện lệch chuẩn trong thực hiện nguyên tắc. Đồng thời, phải coi việc thực hành đúng nguyên tắc tập trung dân chủ là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức đảng và cán bộ lãnh đạo, quản lý, thay vì chỉ dừng lại ở yêu cầu nhận thức chung. Cùng với nâng cao nhận thức, cần tập trung khắc phục “điểm nghẽn” về cơ chế bằng việc cụ thể hóa nguyên tắc thành các quy định, quy trình rõ ràng, dễ thực hiện, dễ kiểm soát. Trọng tâm là làm rõ trách nhiệm, thẩm quyền và mối quan hệ giữa tập thể với cá nhân trong từng khâu của quá trình lãnh đạo; chuẩn hóa quy trình chuẩn bị, thảo luận, ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết; hoàn thiện cơ chế sinh hoạt cấp ủy theo hướng thực chất, tăng cường tranh luận, phản biện. Việc rà soát, bổ sung quy chế làm việc cần bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, đồng thời phù hợp với đặc thù nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, tránh tình trạng quy định chung chung, khó áp dụng.
Đặc biệt, cần thiết lập cơ chế để mọi hoạt động lãnh đạo đều “có dấu vết trách nhiệm”, khắc phục tình trạng tập thể chung chung, cá nhân mờ nhạt; qua đó vừa phát huy trí tuệ tập thể, vừa đề cao trách nhiệm cá nhân, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ được vận hành thực chất, hiệu quả trong đời sống tổ chức của Đảng.
Hai là, mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ cương trong Đảng.
Đây không phải là vấn đề mới, tuy nhiên, thời gian qua, việc thực hiện mối quan hệ này chưa chặt chẽ, hiệu quả thấp; còn biểu hiện hình thức, cứng nhắc và chưa nghiêm. Vì thế, phải tạo dựng các thể chế, cơ chế để dân chủ được phát huy thực chất, trước tiên là bảo đảm các quyền của đảng viên được thực thi, nhất là quyền đưa ra chính kiến thông qua hình thức thảo luận, chất vấn, phê bình, trao đổi thông tin, giữ chính kiến riêng. Song song đó, việc thực hành dân chủ phải luôn song hành với củng cố và nâng cao kỷ luật, kỷ cương nội bộ Đảng. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế giám sát quyền lực hiệu lực dựa trên nguyên lý: quyền lực tới đâu, trách nhiệm tới đó; bảo đảm hài hòa giữa lãnh đạo tập thể và đề cao vai trò chịu trách nhiệm của cá nhân, trước hết là người đứng đầu. Mọi đảng viên phải tuân thủ nghị quyết, nói và làm theo chỉ thị, kết luận, nghị quyết của Đảng, nhưng không rập khuôn, thụ động mà cần phát huy tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ dám làm vì lợi ích chung, mạnh dạn đóng góp ý kiến và phản biện những nội dung không còn phù hợp với thực tiễn.
Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát đối với những vị chí chức vụ dễ phát sinh tiêu cực trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống.
Huy động tối đa vai trò giám sát của quần chúng nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan truyền thông báo chí,… nhằm phát hiện sớm, kịp thời các hành vi đi ngược lại nguyên tắc tập trung dân chủ. Xử lý kịp thời, kiên quyết, nghiêm minh và bài bản những trường hợp vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; những hành vi bao che, dung túng theo đúng quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước, công khai rộng rãi kết quả xử lý để cán bộ, đảng viên và nhân dân được biết.
Ba là,giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ.
Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công tác cán bộ là khâu then chốt của then chốt. Điều đó đã được khẳng định rất rõ cả về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, một trong những yếu tố chủ yếu dẫn đến những hạn chế trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ thời gian qua là do cán bộ “yếu kém” (không biết để thực hiện đúng nguyên tắc, hoặc biết rất rõ nhưng cố tình thực hiện sai). Ở chiều ngược lại, công tác cán bộ ở một số nơi chưa thực hiện đúng theo nguyên tắc tập trung dân chủ, dẫn tới lựa chọn cán bộ sai (không đủ phẩm chất, năng lực). Thực tiễn đặt ra yêu cầu cấp ủy các cấp phải quán triệt sâu sắc, nhận thức đúng đắn, nêu cao tinh thần trách nhiệm và thi hành nghiêm các quy chế về công tác cán bộ; đặc biệt nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Mọi khâu của công tác cán bộ đều phải thảo luận dân chủ, quyết định theo đa số. Khi tập thể cấp ủy, tổ chức đảng đã có nghị quyết, mọi cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối tuân thủ. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống văn bản của Đảng về công tác cán bộ, đồng thời ban hành quy định rõ ràng về trách nhiệm, quyền hạn của người chủ trì, người đứng đầu trong công tác cán bộ.
Tiếp tục hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn chức danh; cơ chế và tiêu chí đánh giá cán bộ; đổi mới cách thức lấy phiếu tín nhiệm bảo đảm dân chủ, trung thực, khách quan; nâng cao tính cạnh tranh, công khai, minh bạch trong tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ. Phân định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn của tập thể và từng cấp ủy viên; xác định các mối quan hệ công tác giữa cấp ủy cơ sở với: thường trực cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, các cơ quan tham mưu giúp việc của cấp ủy cấp trên; cũng như với thủ trưởng cơ quan, đơn vị; đồng thời bảo đảm sự tương thích với chính quyền địa phương ở cả hai cấp.
Bốn là, xây dựng, củng cố văn hóa lãnh đạo, quản lý.
Đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ cách mạng mới – thời kỳ mang đậm dấu ấn lịch sử, thời kỳ toàn dân tộc bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng với nhiều chủ trương đột phá, tạo đà phát triển nhanh và bền vững. Muốn tăng cường hiệu suất xây dựng và củng cố văn hóa lãnh đạo, quản lý (một phương diện then chốt của “thực hành dân chủ”), trước tiên phải đẩy mạnh nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và cộng đồng xã hội về ý nghĩa của việc xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý. Việc đó giúp xây dựng và hoàn thiện nhân cách, phẩm chất, năng lực của người lãnh đạo, quản lý; phát huy tính tiên phong, nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu. Đồng thời, tạo dựng môi trường trong sạch, lành mạnh tại từng cơ quan, đơn vị.
Vì vậy, cần đổi mới phương thức tuyên truyền, giáo dục để mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần tính cấp bách của nhiệm vụ này, tạo hiệu ứng lan tỏa, nhân rộng điển hình tiên tiến, mô hình hay, hiệu quả. Trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ (nhất là cán bộ chủ chốt, cán bộ chiến lược), phải có chuyên đề riêng hoặc ít nhất lồng ghép được nội dung về văn hóa lãnh đạo, quản lý. Mỗi cán bộ, đảng viên cần được trang bị đầy đủ tri thức, phương pháp, kỹ năng để thực hành văn hóa lãnh đạo, quản lý ngay tại vị trí công tác của mình.
Chú trọng thiết lập cơ chế để các giá trị văn hóa thực sự chuyển hóa thành động lực trong lãnh đạo, quản lý. Cần đưa các quy phạm văn hóa vào bộ tiêu chí đánh giá cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức do Đảng và Chính phủ quy định. Một khi các giá trị, chuẩn mực ấy trở thành thước đo xét duyệt, đề bạt, chúng sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ buộc mỗi cán bộ, đảng viên tự rèn luyện và thực hành văn hóa lãnh đạo, quản lý. Song song đó, thường xuyên xây dựng môi trường văn hóa và ứng xử nơi công sở vừa là nền tảng tất yếu cho văn hóa lãnh đạo, quản lý, vừa là sản phẩm của quá trình xây dựng văn hóa công vụ. Một môi trường làm việc lành mạnh sẽ khơi dậy sự sáng tạo, tính chủ động và tinh thần tích cực của tất cả các thành viên, bao gồm cả đội ngũ lãnh đạo, quản lý. Ngược lại, nếu người đứng đầu thấm nhuần các chuẩn mực văn hóa, tự họ sẽ quan tâm kiến tạo một không gian làm việc nhân văn, văn minh và hiệu suất cao.
Năm là, kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu chống phá, xuyên tạc nguyên tắc tập trung dân chủ.
Ngay từ khi mới ra đời và đi vào hoạt động của các Đảng Cộng sản, nguyên tắc tập trung dân chủ đã luôn phải hứng chịu sự chống phá quyết liệt, với nhiều âm mưu và thủ đoạn tinh vi từ kẻ thù. Vì suy cho cùng, nếu phá hủy được nguyên tắc này, Đảng Cộng sản sẽ mất đi ý nghĩa chính trị đích thực. Thực hiện “Diễn biến hòa bình” đối với cách mạng nước ta, hiện nay, các thế lực thù địch, phản động chống phá việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng những luận điệu, như: nguyên tắc tập trung dân chủ không có thật; dân chủ không thể đi đôi với tập trung; phải bỏ chế độ thiểu số phục tùng đa số; cho đảng viên được nói và làm khác với nghị quyết của Đảng mới có “dân chủ”, “sáng tạo”; nguyên tắc tập trung dân chủ là một “nguyên tắc sai lầm”, “làm mất dân chủ” và “tất yếu dẫn đến tập trung quan liêu, chuyên chế, tình trạng vô trách nhiệm”, v.v. Cùng với điên cuồng xuyên tạc, nhồi nhét những quan điểm sai trái, các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng bất kỳ sự buông lỏng nào trong thực hiện nguyên tắctập trung dân chủ của Đảng ta để phá vỡ sự thống nhất, đoàn kết trong Đảng và giữa Đảng với nhân dân, gây ra tình trạng vô chính phủ, tạo dựng lực lượng đối lập với Đảng.
Chính vì thế, cùng với “xây” (thực hiện tốt tập trung dân chủ), tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải chú trọng “chống” (các quan điểm sai trái, thù địch). Điều trước tiên là phải nhận thức đầy đủ bản chất của các luận điệu phá hoại để luôn cảnh giác, kiên quyết, mưu trí, chủ động, tích cực đấu tranh ngăn chặn mọi âm mưu xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, cũng như các khuynh hướng tự phát, vô chính phủ, chia rẽ, phá hoại nội bộ. Điều quan trọng hơn cả là chúng ta cần dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, nhận rõ những hạn chế, khuyết điểm, vi phạm trong quá trình thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ để có giải pháp kiên quyết khắc phục kịp thời, triệt để; không vì những sai lầm, vấp váp mà nảy sinh dao động, phủ nhận nguyên tắc này.
Tập trung dân chủ - nguyên tắc sống còn của Đảng Cộng sản! Đó không phải là sự cường điệu hóa, cũng không phải là lý luận suông. Đó là điều đã được thực tiễn kiểm nghiệm. Vì vậy, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ vừa là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, vừa là yêu cầu cấp bách của toàn Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Lê Đức Nhân (Phó Trưởng phòng Phòng Tuyên huấn, Cục Chính trị Quân khu 7)
1 ngày trước
4 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
11 ngày trước
13 ngày trước
18 ngày trước
20 ngày trước
22 ngày trước
22 ngày trước
24 ngày trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
43 phút trước
25 phút trước
4 giờ trước
26 phút trước
Vừa xong
1 phút trước
5 phút trước
13 phút trước
18 phút trước
23 phút trước
24 phút trước
26 phút trước