🔍
Chuyên mục: Ẩm thực

Giữ nhịp nghề quê bên vàm Nhựt Tảo

2 giờ trước
Dọc theo dòng Vàm Cỏ, nhịp sống làng quê ven sông vẫn lặng lẽ gìn giữ nhiều nghề truyền thống đã nuôi sống bao thế hệ. Ở vàm Nhựt Tảo (huyện Tân Trụ, tỉnh Long An cũ nay thuộc xã Tân Trụ và xã Nhật Tảo, tỉnh Tây Ninh) vẫn còn những người dân tần tảo ngày ngày bám ruộng lác, xưởng bột, giữ lại hơi thở đời sống của một vùng quê từ hàng trăm năm trước.

Người dân Nhựt Tảo phơi lác từ 6h sáng khi mặt trời còn chưa ló dạng.

Men theo dòng sông Nhựt Tảo, nơi hợp lưu của những nhánh nước hiền hòa đổ về Vàm Cỏ, không khó để mọi người bắt gặp những mái nhà thấp thoáng sân phơi bột gạo nếp trắng xóa hay những ruộng lác xanh rì trải dài. Vàm Nhựt Tảo không chỉ là vùng đất sản xuất, mưu sinh, mà còn là địa danh gắn liền với lịch sử - Khu di tích Vàm Nhựt Tảo ghi dấu chiến công oanh liệt của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực khi đốt cháy tàu chiến của thực dân Pháp trên sông.

Ở xã Tân Trụ, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Hồng Gia Vy những ngày nắng tháng tư trở nên nhộn nhịp hơn bao. Đây là mùa cao điểm sản xuất bột trong năm. Trên khoảng sân rộng, những nia bột được xếp ngay ngắn, trắng phau dưới ánh nắng chói chang. Chị Huỳnh Thị Hồng Nga (sinh năm 1972) thoăn thoắt hứng từng nia bột, dàn đều rồi chuyển lên xe đẩy. Hai lao động nam thay phiên nhau đẩy xe ra sân, sắp từng nia lên giàn khung sắt cao hơn mặt đất để đón nắng. Công việc lặp đi lặp lại, tưởng chừng đơn giản nhưng đòi hỏi sự tỉ mỉ và kiên nhẫn.

“Tôi làm công việc này được hai năm rồi. Mỗi ngày cũng được khoảng 230.000 đồng, thêm tiền cơm 50.000 đồng. Mùa nắng thì có việc đều, còn mùa mưa thì ít việc hơn vì không phơi được bột,” chị Nga chia sẻ. Trước đây, chị từng trồng thanh long với thu nhập cao hơn, nhưng gần đây diện tích trồng thanh long tại địa phương không còn nhiều, chị quay về với nghề làm bột.

Người dân thu hoạch lác, chặt, gom và lọc những cây đạt chiều cao rồi bó lại.

Để làm ra những mẻ bột trắng, mịn, nguyên liệu đầu vào phải được chọn lựa kỹ lưỡng. Gạo nếp phải ngon; nước phải sạch, không nhiễm phèn hay bị lợ. Gạo được ngâm mềm, xay nhuyễn; sau đó ngâm tiếp trong các lu, khạp hoặc hồ xi măng. Quá trình “tẻ nước” được thực hiện thành nhiều đợt, thay nước mới ít nhất một tuần - là công đoạn quan trọng để giúp bột đạt độ trắng và mịn. Sau đó, bột được vắt ráo, bẻ nhỏ, đem phơi từ ba đến bốn nắng cho khô hoàn toàn. Trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ, những cục bột khô được đóng bao, cung cấp cho thị trường để làm các sản phẩm quen thuộc như hủ tiếu, bánh canh, phở, cháo…

Ngày nay, dù đã áp dụng máy móc vào nhiều khâu như vo gạo, nghiền bột, ép bột tươi hay hệ thống bơm hút, nhưng những công đoạn quan trọng vẫn cần đến bàn tay con người.

Chị Huỳnh Thị Hồng Nga hứng bột vào nia, dàn đều rồi đem phơi nắng.

Rời xưởng bột, chúng tôi tìm đến những cánh đồng lác xanh mướt ở xã Nhựt Tảo. Dưới cái nắng gay gắt của tháng Tư, bà Hai (sinh năm 1968), sống tại vàm Nhựt Tảo vẫn cần mẫn làm cỏ lác từ sáng sớm. “Ngày làm 9 tiếng, mỗi tiếng 30 nghìn, cũng được 270.000 đồng”, bà Hai tâm sự.

Khi không làm dưới ruộng lác, rảnh rỗi bà còn tự dệt chiếu tại nhà. Người dân trong vùng đều có nghề dệt chiếu lác. Tuy nhiên, nghề này giờ không còn phát triển như trước. “Nguyên liệu đắt, dệt xong lời có mười nghìn một đôi, nên ít người làm lắm”, bà Hai chia sẻ.

Nhân công đang phơi bột dưới trưa nắng tháng tư.

Nghề trồng cỏ lác mỗi năm thu hoạch ba đợt, mỗi đợt cách nhau khoảng ba tháng. Thời gian còn lại, người làm phải “đi đọt”, cắt tỉa để cây lác mọc dày, đều. Gia đình ông Nguyễn Văn Cu (sinh năm 1971, xã Nhựt Tảo) gắn bó với nghề trồng lác hơn 20 năm qua. Với 6 công đất, hai vợ chồng ông tự làm tất cả công đoạn từ cấy, bón phân, chăm sóc đến thu hoạch, phơi khô. “Mỗi năm nếu giá tốt thì cũng được khoảng 150 - 180 triệu đồng, còn không thì tầm 100 - 120 triệu đồng. Ở quê chi phí thấp, cũng đủ trang trải và lo cho 2 con ăn học”, ông Nguyễn Văn Cu cho biết.

Vợ chồng ông Nguyễn Văn Cu thu hoạch lác.

Cây lác sau khi trồng khoảng ba tháng sẽ được thu hoạch. Khi cao khoảng 1,5m, lác được cắt, chẻ đôi rồi phơi khô tự nhiên. Theo ông Nguyễn Văn Cu, việc phơi nắng tự nhiên là yếu tố quyết định màu sắc của sợi lác. Lác khô được thương lái thu mua để làm nhiều sản phẩm như chiếu, túi xách, dép, hay dùng để gói bánh tét.

Trước đây, những nghề nơi thôn quê chỉ là kế sinh nhai, ngày nay những cánh đồng lác còn là điểm đến cho du khách, nhiếp ảnh gia. Những bó lác vàng óng dưới nắng, bàn tay thoăn thoắt chẻ lác, phơi lác, những giọt mồ hôi cần mẫn rơi của người nông dân trên cánh đồng làm cỏ lác, thu hoạch lác… trở thành chất liệu sống động cho các bộ ảnh nghệ thuật.

Chị Nguyễn Vũ Cẩm Ngân (sinh năm 1987, xã Hậu Nghĩa, tỉnh Tây Ninh) là một trong những người trẻ tham gia trải nghiệm tại đây. “Trước đây tôi không biết nghề lác là gì. Khi tham gia thu hoạch rồi phơi lác, tôi mới hiểu để có được những sản phẩm như chiếu, túi xách thì phải qua rất nhiều công đoạn. Tôi thấy thú vị và ý nghĩa”, chị Ngân chia sẻ. Theo Ngân, những trải nghiệm như vậy giúp chị hiểu hơn về những nghề truyền thống; đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh làng quê, văn hóa Việt Nam đến nhiều người hơn.

Chị Nguyễn Vũ Cẩm Ngân, ngụ xã Hậu Nghĩa trải nghiệm hoạt động nghề truyền thống.

Ở vàm Nhựt Tảo hôm nay, giữa những đổi thay của thời cuộc, vẫn còn đó những con người lặng lẽ giữ nghề. Họ đã và đang làm ra những sản phẩm của quê hương, gìn giữ một phần ký ức, một phần hồn cốt của làng quê Nam Bộ.

Bài, ảnh Đức Hạnh (TTXVN)













Home Icon VỀ TRANG CHỦ