🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Giữ hồn đại ngàn qua những thanh âm Bru-Vân Kiều

20 phút trước
Đối với đồng bào Bru-Vân Kiều, văn hóa không chỉ hiện hữu trong những lễ hội được tổ chức theo mùa, những bộ trang phục thổ cẩm rực rỡ hay âm thanh của cồng chiêng giữa đại ngàn. Văn hóa còn nằm trong từng làn điệu dân ca, tiếng sáo, tiếng đàn, trong cách làm một nhạc cụ và những nghi thức được người già truyền lại cho người trẻ. Đó là mạch nguồn âm thầm nuôi dưỡng bản sắc cộng đồng qua bao thế hệ.

Ở những bản làng dọc dòng Sê Băng Hiêng thuộc xã rẻo cao Hướng Lập, tỉnh Quảng Trị, khi đời sống hiện đại ngày càng len sâu vào từng nếp nhà, hai người đàn ông đã bước qua tuổi 80 là nghệ nhân Hồ Văn Lương và ông Hồ Văn Pù vẫn lặng lẽ làm công việc mà họ đã gắn bó gần như suốt cuộc đời: giữ lại những gì thuộc về văn hóa của dân tộc mình.

Giữ tiếng đàn, tiếng sáo cho bản làng

Trong căn nhà sàn ở thôn A Xóc - Cha Lỳ, xã Hướng Lập, dù đã bước qua tuổi 80, nghệ nhân Hồ Văn Lương vẫn dành nhiều thời gian cho những nhạc cụ truyền thống của người Bru-Vân Kiều. Những đoạn nứa, cành cây được ông lựa chọn, phơi khô, đo đạc rồi cẩn thận khoét từng lỗ nhỏ. Từ đôi bàn tay đã in dấu thời gian, những chiếc kèn Amam, sáo Teril vẫn tiếp tục được làm ra, mang theo những thanh âm từng gắn bó với đời sống tinh thần của đồng bào giữa đại ngàn.

Bản làng của người Bru-Vân Kiều bên dòng Sê Băng Hiêng.

Theo nghệ nhân Hồ Văn Lương, kho tàng nhạc cụ truyền thống của người Bru-Vân Kiều rất phong phú, gồm kèn Amam, sáo Pi, sáo Teril, trống, cồng, chiêng, xập xõa, đàn Ta Lư, tù và sừng trâu, khèn Bè, đàn Môi… Mỗi loại nhạc cụ có cấu tạo, âm sắc và cách sử dụng riêng, gắn với những không gian sinh hoạt văn hóa khác nhau của cộng đồng.

Cùng với tiếng nhạc là những làn điệu dân ca như Tà Oải, Xa Nớt, Roai Troong, Oát, Xi On, Cha Chấp… được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Với người Bru-Vân Kiều, đó không đơn thuần là những bài hát hay những âm thanh giải trí, mà còn là một phần ký ức cộng đồng, nơi lưu giữ cách người xưa bày tỏ tình yêu, niềm vui, nỗi buồn và mối quan hệ với núi rừng, bản làng.

Nghệ nhân Hồ Văn Lương (thứ hai từ phải sang) với chiếc khèn Bè. Ảnh: Hồ Giỏi.

Giữa nhịp sống hiện đại đang thay đổi từng ngày, điều khiến nghệ nhân Hồ Văn Lương trăn trở nhất là số người còn biết chế tác và sử dụng những nhạc cụ truyền thống ngày càng ít đi. Không phải người trẻ nào cũng còn đủ kiên nhẫn để học cách chọn cây, chọn nứa, khoét lỗ, chỉnh âm hay ghi nhớ những làn điệu cổ.

“Người già biết thì ngày một ít đi. Nếu lớp trẻ không học thì sau này những nhạc cụ này sẽ không còn ai biết làm nữa”, nỗi lo ấy luôn thường trực trong suy nghĩ của người nghệ nhân đã gắn bó gần như cả cuộc đời với tiếng nhạc núi rừng. Vì thế, với Hồ Văn Lương, việc làm ra một chiếc nhạc cụ chưa phải là điều quan trọng nhất. Điều ông mong muốn là phải có người trẻ biết sử dụng, biết yêu và tiếp tục gìn giữ những thanh âm ấy.

Mỗi khi địa phương tổ chức lễ hội, ngày hội văn hóa hoặc các hoạt động cộng đồng, ông đều tranh thủ hướng dẫn thanh niên, thiếu niên cách cầm nhạc cụ, cách tạo âm thanh và chơi những giai điệu truyền thống. Những bài học ấy không diễn ra trong một lớp học cố định, cũng không có giáo án theo nghĩa thông thường. Người học nghe người già chỉ dẫn, rồi tự tay làm, tự mình thổi, đánh, gảy và sửa từng âm thanh.

Đó cũng là cách văn hóa Bru-Vân Kiều được trao truyền từ lâu đời: bằng sự gần gũi trong đời sống cộng đồng.

Trong số những nhạc cụ mà nghệ nhân Hồ Văn Lương còn chế tác được, kèn Amam là loại nhạc cụ đòi hỏi sự khéo léo và kinh nghiệm. Để làm kèn, ông phải vào rừng tìm loại cành cây phù hợp, đem về phơi thật khô rồi lựa chọn đoạn có chiều dài khoảng 30-40cm. Hai đầu kèn được khoét những lỗ có kích thước và vị trí cân đối. Chỉ một sai lệch nhỏ trong quá trình chế tác cũng có thể làm âm thanh phát ra không đạt như mong muốn.

Kèn Amam có thể được sử dụng độc tấu, nhưng cũng có thể do hai người cùng thổi, thường là một nam và một nữ, tạo nên những màn đối đáp giàu sắc thái trong sinh hoạt giao duyên.

Với sáo Teril, nguyên liệu thường là những đoạn nứa già, thẳng và cứng, dài khoảng 70cm. Trên thân sáo, người chế tác phải xác định chính xác vị trí để khoét bốn lỗ với khoảng cách phù hợp. Khi những ngón tay lần lượt bịt, mở các lỗ sáo, âm thanh cất lên có lúc trong trẻo, có lúc dìu dặt, hòa cùng những làn điệu dân ca như Oát.

Những nhạc cụ ấy từng là một phần quen thuộc trong đời sống của bản làng. Trong các nghi lễ, lễ hội hay những cuộc gặp gỡ cộng đồng, tiếng trống, tiếng cồng chiêng, tiếng sáo, tiếng đàn và lời hát tạo nên một không gian văn hóa riêng biệt. Đặc biệt, trong những đêm sim dưới ánh trăng đại ngàn, tiếng kèn Amam, sáo Teril hay đàn Môi từng là nhịp cầu để những chàng trai, cô gái tìm hiểu và trao gửi tình cảm.

Nhưng với Hồ Văn Lương, nhắc lại những thanh âm của ngày trước không phải để hoài niệm. Điều ông quan tâm hơn là làm thế nào để những thanh âm ấy vẫn còn được vang lên trong đời sống hôm nay. Bởi khi một chiếc kèn vẫn còn người biết làm, một làn điệu vẫn còn người biết hát, một người trẻ vẫn còn muốn học cách chơi nhạc cụ truyền thống, thì văn hóa vẫn chưa chỉ nằm trong ký ức.

Giữa những đổi thay của cuộc sống hiện đại, người nghệ nhân tuổi 80 vẫn lặng lẽ giữ lấy công việc của mình. Ông làm một chiếc kèn, hướng dẫn một người trẻ, truyền lại một làn điệu. Những việc tưởng nhỏ bé ấy, nhưng chính là cách để mạch nguồn văn hóa của người Bru-Vân Kiều không bị đứt đoạn giữa đại ngàn.

Người giữ ký ức của những lễ hội

Nếu nghệ nhân Hồ Văn Lương lặng lẽ giữ gìn những thanh âm của núi rừng, thì ở thôn Tà Rùng, ông Hồ Văn Pù lại lưu giữ trong trí nhớ một phần khác của kho tàng văn hóa Bru-Vân Kiều: những phong tục, nghi lễ đã gắn bó với cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Ở tuổi 80, ông Pù không biết hát dân ca, cũng không chơi được các nhạc cụ truyền thống. Nhưng mỗi khi câu chuyện được nhắc đến những lễ cúng, những nghi thức của bản làng, ông có thể kể lại khá tường tận: nghi lễ nào được tổ chức vào thời điểm nào, gắn với công việc gì, cộng đồng gửi gắm điều gì trong mỗi cuộc lễ.

Đồng bào Bru-Vân Kiều ở Hướng Lập với nghi lễ cúng lúa mới.

Đội cồng chiềng ở bản Cù Bai, xã Hướng Lập múa mừng lúa mới.

Đó là những tri thức được ông tích lũy không phải từ sách vở, mà từ chính cuộc sống của mình trong cộng đồng.

Theo ông, đời sống văn hóa của người Bru-Vân Kiều từ lâu gắn chặt với núi rừng, lao động sản xuất và quan hệ cộng đồng. Trong chu trình sản xuất nông nghiệp có lễ cúng rẫy, lễ lấp lỗ, lễ ra mắt, lễ chia hồn lúa, lễ cầu bông, lễ mừng cơm mới, lễ tạ ơn thần lúa… Trong đời sống cộng đồng có lễ cúng Yang Kaneaq - thần núi, lễ mở nước, lễ vào nhà mới. Còn trong những dấu mốc của đời người có lễ cúng sinh đẻ, lễ cưới, lễ đám chay…

Đằng sau mỗi nghi lễ là một cách nhìn về thế giới và một hệ giá trị được cộng đồng gìn giữ. Con người ứng xử với thiên nhiên ra sao, trân trọng hạt lúa như thế nào, gắn bó với bản làng và tổ tiên thế nào… tất cả đều được gửi gắm trong những nghi thức được thực hành và trao truyền từ đời này sang đời khác.

Bởi vậy, điều Hồ Văn Pù lo lắng không chỉ là một lễ hội nào đó không còn được tổ chức. Ông hiểu rằng, khi một nghi lễ dần biến mất khỏi đời sống, những câu chuyện, quan niệm và tri thức văn hóa phía sau nó cũng có nguy cơ bị lãng quên.

Những năm gần đây, một số địa phương miền núi đã quan tâm hơn đến việc khôi phục và tổ chức lại các hoạt động văn hóa truyền thống của đồng bào Bru-Vân Kiều, Pa Cô. Những lễ hội từng chỉ còn trong ký ức của lớp người cao tuổi có thêm cơ hội trở lại với cộng đồng. Quan trọng hơn, đó cũng là dịp để người trẻ được nhìn thấy, được tham gia và hiểu hơn về những giá trị mà cha ông đã gìn giữ.

Anh Hồ Giỏi, ở thôn Tà Rùng, cho rằng kho tàng văn hóa Bru-Vân Kiều rất phong phú, nhưng những thay đổi nhanh chóng của đời sống hiện đại cũng đang đặt ra không ít thách thức đối với việc bảo tồn. Một số phong tục, làn điệu dân ca, điệu múa và nghi thức lễ hội không còn được thực hành thường xuyên. Khi khoảng cách giữa các thế hệ ngày càng lớn, việc trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống cũng không còn diễn ra một cách tự nhiên như trước.

Theo anh Hồ Giỏi, người trẻ phải trở thành mắt xích quan trọng trong dòng chảy ấy. Một làn điệu dân ca chỉ thực sự còn sức sống khi có người trẻ tiếp tục hát. Một nhịp cồng chiêng chỉ không bị lãng quên khi vẫn có người học đánh. Và một nghi lễ chỉ không trở thành câu chuyện của quá khứ khi thế hệ sau hiểu được ý nghĩa của nó.

Để di sản tiếp tục sống

Từ những trăn trở của các nghệ nhân, việc bảo tồn văn hóa Bru-Vân Kiều ở Hướng Lập đang được đặt ra bằng những công việc cụ thể. Ông Hồ Ngọc Tình, Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Hướng Lập, cho biết trước hết cần tạo môi trường để những người còn nắm giữ vốn văn hóa truyền thống có thể trực tiếp truyền dạy cho thế hệ trẻ.

Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào Bru-Vân Kiều ở Hướng Lập ngày càng khởi sắc.

“Địa phương sẽ tiếp tục tổ chức các hoạt động văn hóa ở thôn, bản, duy trì các đội văn nghệ quần chúng, tạo điều kiện để nghệ nhân truyền dạy dân ca, dân vũ, cách sử dụng và chế tác nhạc cụ truyền thống cho thanh thiếu niên. Các lễ hội, nghi lễ truyền thống cũng cần được quan tâm phục dựng để người trẻ có cơ hội tiếp cận và tham gia”, ông Tình nói.

Cùng với truyền dạy, những giá trị đang nằm trong trí nhớ và đôi tay của các nghệ nhân cũng cần được giữ lại. “Những làn điệu dân ca, cách chế tác nhạc cụ, các điệu múa, nghi lễ, phong tục và những câu chuyện văn hóa của cộng đồng cần được sưu tầm, ghi âm, ghi hình, tư liệu hóa. Đặc biệt, với những giá trị đã bị mai một, cần tìm lại những người còn biết, còn nhớ để cùng cộng đồng khôi phục”, ông Tình nhấn mạnh.

Dưới tán rừng Trường Sơn, dòng Sê Băng Hiêng vẫn chảy qua những bản làng của người Bru-Vân Kiều. Cùng với dòng sông ấy là một dòng chảy khác, âm thầm nhưng bền bỉ: dòng chảy của tiếng hát, tiếng nhạc, những lễ hội, phong tục và ký ức cộng đồng.

Thanh Bình

TIN LIÊN QUAN














Home Icon VỀ TRANG CHỦ