🔍
Chuyên mục: Tài chính

Giữ 'dây cương' quản trị rủi ro trong cuộc đua tăng trưởng ngành ngân hàng

5 ngày trước
Tỷ lệ tín dụng/GDP đã lên tới 146% và áp lực thanh khoản gia tăng, song TS. Châu Đình Linh - Đại học Ngân hàng TP. HCM cho rằng, không phải ngân hàng nào tăng trưởng tín dụng nhanh cũng đáng lo. Vấn đề cốt lõi nằm ở chất lượng quản trị rủi ro, mức độ chủ động kiểm soát quy mô tăng trưởng và hiệu quả giám sát, điều hành của cơ quan quản lý.
00:00
00:00

PV: Cuối năm 2025 và đầu năm 2026, lãi suất huy động tăng khá mạnh, trong khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm cũng tăng vọt lên mức rất cao. Theo ông, những diễn biến này phản ánh điều gì về trạng thái thanh khoản của hệ thống ngân hàng?

TS. Châu Đình Linh

TS. Châu Đình Linh: Diễn biến tăng lãi suất phản ánh trên toàn bộ hệ thống và cũng là một dấu hiệu cảnh báo sớm cho những yếu tố mang tính bất ổn định. Vì vậy, chúng ta cần quan sát kỹ và nắm bắt những tín hiệu này ngay từ đầu năm.

Nhìn ở góc độ tổng thể, tỷ lệ tín dụng/GDP đã lên tới khoảng 146%, cho thấy phần lớn nguồn vốn trong nền kinh tế ngày càng phụ thuộc sâu sắc vào thị trường tiền tệ thông qua hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, giới hạn sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn của nhiều ngân hàng đã chạm mức 30%, tức gần chạm ngưỡng quy định.

Mọi áp lực đang dồn lên thị trường tiền tệ, tạo ra sự thiếu cân bằng rõ rệt với thị trường vốn. Do đó, chỉ cần xuất hiện một tín hiệu mang tính bất ổn định từ thị trường tiền tệ cũng đủ phát đi những cảnh báo về các vấn đề cần được “khoanh vùng”, quan tâm và xử lý kịp thời.

PV: Theo ông, đâu là những nguyên nhân chính phía sau diễn biến này, trong mối liên hệ với tăng trưởng tín dụng và huy động vốn?

TS. Châu Đình Linh: Đây là kết quả của chuỗi nhiều yếu tố tác động, trong đó, có việc tăng trưởng tín dụng nhanh hơn so với tăng trưởng huy động, kéo theo áp lực thanh khoản trong năm 2026. Trước đó, vào quý III/2025, áp lực này chỉ xảy ra ở một vài ngân hàng, còn thị trường liên ngân hàng vẫn tương đối ổn định, lãi suất xoay quanh mức 6% rồi giảm về khoảng 4% nhờ sự điều tiết thông qua kênh thị trường mở (OMO) của Ngân hàng Nhà nước, nên khi đó áp lực chưa quá lớn.

Khi các ngân hàng lớn có mức độ chi phối thị phần nâng lãi suất, có thể thấy, áp lực thanh khoản sẽ trở thành câu chuyện lớn trong năm 2026.

Thực tế, có nhiều ngân hàng tăng trưởng tín dụng rất cao, trong khi tăng trưởng tiền gửi lại không tương xứng, có ngân hàng chỉ đạt 5 - 6%, tạo ra khoảng chênh lệch rất lớn. Khi khoảng cách này nới rộng, ngân hàng buộc phải phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường liên ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Bên cạnh đó, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) của nhiều ngân hàng đang giảm. Đồng thời, chi phí vốn gia tăng sẽ tác động trực tiếp đến biên lãi ròng (NIM), khiến NIM bị thu hẹp.

Do đó, ngân hàng buộc phải chủ động đẩy mạnh huy động vốn từ khu vực dân cư, đồng nghĩa phải tăng lãi suất huy động, gây tác động khá lớn. Cùng với đó, bài toán thanh khoản buộc phải được giải quyết ngay và thị trường liên ngân hàng trở thành nơi nhiều ngân hàng phải “bám víu” để xử lý nhu cầu thanh khoản trong ngắn hạn.

Đó là chưa kể, chất lượng tài sản cũng rất đáng bàn, khi có những ngân hàng tăng trưởng tín dụng cao, nhưng chất lượng tài sản không tương xứng. Tuy nhiên, không phải cứ ngân hàng tăng trưởng nóng là đều đáng lo.

Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng trong năm 2026 quanh mức 15%. Ảnh: Đức Thanh

PV:Vậy những trường hợp nào tăng trưởng tín dụng nóng, nhưng chưa đáng lo ngại và những tiêu chí quan trọng nào cần được xem xét để đánh giá đúng mức độ rủi ro, thưa ông?

TS. Châu Đình Linh: Một số ngân hàng dù tăng trưởng cao, nhưng lại có hệ thống quản trị rủi ro khá tốt, đã sàng lọc kỹ đối tượng người vay, chứ không phải buông lỏng. Nhiều ngân hàng cũng chủ động lựa chọn “khẩu vị” rủi ro cao hơn, “bỏ trứng vào một giỏ”, nhưng kiểm soát rất kỹ và thực tế có ngân hàng làm được điều này.

Nhiều ngân hàng xây dựng được nền móng vững chãi, từ hệ thống quản trị rủi ro toàn diện, được cập nhật liên tục, có nhiều lớp, nhiều tầng, có sự phân tách và chuyên môn hóa rõ ràng giữa các bộ phận bên trong, để sàng lọc, gạn lọc ngay từ đầu nguồn, bắt đầu từ khâu lựa chọn đối tượng đi vay. Khi làm được như vậy, chất lượng tài sản của ngân hàng sẽ biến động theo hướng tương xứng với mức tăng trưởng và tăng trưởng tín dụng nhanh không có gì đáng lo ngại.

Khi đó, việc chấp nhận khẩu vị rủi ro cao hơn, để tìm kiếm lợi nhuận nhiều hơn là điều hoàn toàn hợp lý, bởi ngân hàng hiểu rõ rủi ro nằm ở đâu.

Ngân hàng Nhà nước cũng nhìn thấy điều này. Việc các tổ chức tài chính quốc tế như Fitch hay S&P đánh giá, nâng hay hạ xếp hạng tín nhiệm cũng chính là đang phản ánh mức độ “kìm cương” và khả năng kiểm soát rủi ro của từng ngân hàng.

Vấn đề chỉ nằm ở chỗ, một số ngân hàng tăng trưởng nóng, nhưng lại phải đánh đổi bằng rủi ro, sự đánh đổi này gây ảnh hưởng rất lớn tới chính ngân hàng. Do đó, cần có chỉ đạo ngay lập tức từ nhà điều hành, phải có hệ thống cảnh báo sớm và theo dõi sát sao.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ánh Tuyết

TIN LIÊN QUAN

























Home Icon VỀ TRANG CHỦ