🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Giá tiêu hôm nay 4/8/2026: Trong nước giữ mức 138.000–141.000 đồng/kg, xuất khẩu tăng mạnh về lượng

6 giờ trước
Giá tiêu hôm nay 4/8/2026 tại các vùng sản xuất trọng điểm tiếp tục đi ngang trong khoảng 138.000–141.000 đồng/kg. Trên thị trường quốc tế, giá tiêu đen và tiêu trắng tại Indonesia, Brazil, Malaysia và Việt Nam chưa ghi nhận biến động mới.

Giá tiêu trong nước hôm nay 4/8/2026

Khảo sát giá tiêu sáng 4/8 cho thấy giá hồ tiêu tại các vùng nguyên liệu lớn trên cả nước không thay đổi so với ngày hôm trước. Mặt bằng thu mua tiếp tục duy trì từ 138.000 đồng/kg đến 141.000 đồng/kg, chênh lệch giữa khu vực cao nhất và thấp nhất là 3.000 đồng/kg.

Lâm Đồng tiếp tục dẫn đầu thị trường với mức 141.000 đồng/kg tại khu vực Đắk Nông cũ. Đây là vùng duy nhất giữ giá thu mua trên ngưỡng 140.000 đồng/kg trong phiên sáng nay.

Đứng kế tiếp là Đắk Lắk, nơi hồ tiêu được các đại lý thu mua với giá 140.000 đồng/kg. Mức giá này không thay đổi so với phiên liền trước và thấp hơn Lâm Đồng 1.000 đồng/kg.

Tại Gia Lai, giá tiêu hôm nay đạt 138.000 đồng/kg. Các điểm khảo sát ở Đồng Nai, bao gồm khu vực Bình Phước cũ, cũng phổ biến ở mức 138.000 đồng/kg. Khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu cũ, nay thuộc TP. Hồ Chí Minh, giữ cùng mức giá 138.000 đồng/kg.

Như vậy, giá tiêu hôm nay 4/8/2026 chưa xuất hiện đợt điều chỉnh mới. Thị trường tiếp tục ở trạng thái ổn định sau những phiên biến động vào cuối tháng 7.

Giá tiêu thế giới hôm nay 4/8/2026

Giá hồ tiêu xuất khẩu trên thị trường quốc tế đồng loạt đứng yên trong phiên cập nhật mới nhất.

Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Lampung của Indonesia đang được chào bán với giá 6.760 USD/tấn. Tiêu đen Brazil loại ASTA 570 giữ mức thấp nhất trong nhóm khảo sát, đạt 5.700 USD/tấn.

Tại Malaysia, tiêu đen Kuching ASTA tiếp tục có giá 9.300 USD/tấn. Đây là mức cao nhất trong nhóm tiêu đen được cập nhật sáng nay.

Giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam cũng không thay đổi. Loại 500 g/l hiện đạt 5.970 USD/tấn, còn loại 550 g/l được chào bán ở mức 6.050 USD/tấn.

Ở phân khúc tiêu trắng, Malaysia tiếp tục dẫn đầu với giá 12.200 USD/tấn. Tiêu trắng Muntok của Indonesia duy trì ở mức 9.317 USD/tấn, còn tiêu trắng Việt Nam giữ giá 8.350 USD/tấn.

Xuất khẩu hồ tiêu tăng nhưng giá bình quân giảm

Dữ liệu từ Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương cho biết trong quý II/2026, Việt Nam xuất khẩu 79,8 nghìn tấn hồ tiêu, thu về 519,3 triệu USD. So với quý I/2026, lượng xuất khẩu tăng 20,8% và trị giá tăng 20,6%.

So với quý II/2025, lượng hồ tiêu xuất khẩu tăng 5,1%, song kim ngạch giảm 0,8%. Nguyên nhân chính đến từ việc giá xuất khẩu bình quân giảm xuống còn 6.503 USD/tấn, thấp hơn 0,2% so với quý trước và giảm 5,6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu không thay đổi nhiều. Tiêu đen và tiêu đen xay chiếm tổng cộng 84,1%, cao hơn mức 83,4% của quý II/2025.

Xét theo từng mặt hàng, lượng tiêu đen xuất khẩu tăng 5,8%, tiêu đen xay tăng 7,7% và tiêu trắng xay tăng 3,3%. Riêng tiêu trắng nguyên hạt giảm 8,3% so với cùng kỳ.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, tiêu đen tiếp tục là mặt hàng chủ lực với sản lượng xuất khẩu đạt 100,2 nghìn tấn, trị giá 651,1 triệu USD. Kết quả này tăng 19,1% về lượng và tăng 15,6% về trị giá so với nửa đầu năm 2025.

Số liệu trên cho thấy tăng trưởng của ngành hồ tiêu trong nửa đầu năm chủ yếu dựa vào sản lượng. Việc giá xuất khẩu bình quân giảm khiến kim ngạch chưa tăng tương xứng với khối lượng hàng được đưa ra thị trường quốc tế.

BẢN 2

Giá tiêu hôm nay 4/8/2026: Lâm Đồng cao nhất 141.000 đồng/kg, thị trường thế giới lặng sóng

Giá tiêu hôm nay 4/8/2026 tiếp tục ổn định trên cả thị trường nội địa và xuất khẩu. Lâm Đồng dẫn đầu với 141.000 đồng/kg, còn giá tiêu đen quốc tế dao động từ 5.700–9.300 USD/tấn.

Thị trường tiêu trong nước duy trì trạng thái ổn định

Giá hồ tiêu tại các vùng trồng trọng điểm sáng nay chưa có sự thay đổi. Các doanh nghiệp và đại lý thu mua với giá từ 138.000 đồng/kg đến 141.000 đồng/kg, giữ nguyên mặt bằng của ngày 3/8.

Vị trí cao nhất tiếp tục thuộc về Lâm Đồng. Tại khu vực Đắk Nông cũ, giá tiêu được giữ ở mức 141.000 đồng/kg. Mức thu mua này cao hơn 1.000 đồng/kg so với Đắk Lắk và cao hơn 3.000 đồng/kg so với nhóm địa phương cuối bảng.

Tại Đắk Lắk, hồ tiêu đang được giao dịch với giá 140.000 đồng/kg. Đây là địa phương có mức thu mua cao thứ hai cả nước trong ngày 4/8.

Gia Lai giữ giá 138.000 đồng/kg. Đồng Nai cũng giao dịch quanh mức 138.000 đồng/kg tại cả các điểm khảo sát truyền thống và vùng Bình Phước cũ. Giá tại khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu cũ, hiện thuộc TP. Hồ Chí Minh, đạt 138.000 đồng/kg.

Khoảng cách giá giữa các vùng hiện không lớn. Nguồn cung và nhu cầu thu mua chưa tạo ra lực đẩy đủ mạnh để giá tiêu hôm nay 4/8/2026 thoát khỏi xu hướng đi ngang.

Giá tiêu thế giới chưa xuất hiện biến động mới

Thị trường hồ tiêu quốc tế bước vào phiên giao dịch mới với diễn biến tương đối yên ắng. Giá các chủng loại tiêu đen và tiêu trắng tại những nước sản xuất lớn đều giữ nguyên so với lần cập nhật trước.

Tiêu đen Lampung của Indonesia hiện có giá 6.760 USD/tấn. Tại Brazil, tiêu đen ASTA 570 được chào bán với giá 5.700 USD/tấn, thấp hơn 1.060 USD/tấn so với sản phẩm cùng nhóm của Indonesia.

Malaysia tiếp tục là thị trường có giá tiêu đen cao nhất. Tiêu đen Kuching ASTA tại đây giữ mức 9.300 USD/tấn.

Đối với hàng Việt Nam, tiêu đen loại 500 g/l đạt 5.970 USD/tấn. Sản phẩm loại 550 g/l cao hơn 80 USD/tấn, đạt 6.050 USD/tấn.

Giá tiêu trắng cũng đồng loạt đi ngang. Tiêu trắng Malaysia ASTA dẫn đầu với 12.200 USD/tấn, tiếp đến là tiêu trắng Muntok Indonesia ở mức 9.317 USD/tấn. Tiêu trắng Việt Nam được chào bán với giá 8.350 USD/tấn.

Nhìn tổng thể, giá tiêu thế giới hôm nay 4/8/2026 chưa có tín hiệu tăng hoặc giảm rõ rệt. Khoảng cách giữa các nước vẫn khá lớn, phản ánh sự khác biệt về chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm và từng thị trường xuất khẩu.

Lượng tiêu xuất khẩu quý II tăng hơn 20% so với quý trước

Bức tranh xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam trong quý II/2026 ghi nhận sự cải thiện rõ rệt về sản lượng. Tổng lượng hàng xuất khẩu đạt 79,8 nghìn tấn, tăng 20,8% so với quý I. Kim ngạch đạt 519,3 triệu USD, tăng 20,6%.

Khi so với quý II/2025, kết quả lại có sự phân hóa. Sản lượng tăng 5,1% nhưng trị giá giảm 0,8%, cho thấy mức giá bình quân đã thấp hơn cùng kỳ.

Cụ thể, giá xuất khẩu bình quân trong quý II chỉ đạt 6.503 USD/tấn, giảm 0,2% so với quý I và giảm 5,6% so với cùng kỳ năm 2025.

Tiêu đen cùng tiêu đen xay tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, chiếm 84,1% cơ cấu xuất khẩu. Tỷ trọng này tăng 0,7 điểm phần trăm so với mức 83,4% của một năm trước.

Trong nhóm sản phẩm chính, tiêu đen nguyên hạt tăng 5,8% về lượng; tiêu đen xay tăng 7,7%; tiêu trắng xay tăng 3,3%. Tiêu trắng nguyên hạt là mặt hàng duy nhất giảm, với mức giảm 8,3%.

Lũy kế nửa đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 100,2 nghìn tấn tiêu đen, mang về 651,1 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu tăng 19,1% và trị giá tăng 15,6%.

Dù sản lượng tăng khá tốt, đà giảm của giá xuất khẩu bình quân vẫn là yếu tố cần được theo dõi. Muốn cải thiện giá trị thu về, ngành hồ tiêu cần nâng tỷ trọng hàng chế biến và các sản phẩm có tiêu chuẩn chất lượng cao.

BẢN 3

Giá tiêu hôm nay 4/8/2026: Đi ngang ngày thứ hai liên tiếp, tiêu đen chiếm hơn 84% cơ cấu xuất khẩu

Giá tiêu hôm nay 4/8/2026 không đổi so với phiên trước, dao động từ 138.000–141.000 đồng/kg. Hoạt động xuất khẩu tiếp tục được dẫn dắt bởi tiêu đen và tiêu đen xay với tỷ trọng 84,1%.

Giá hồ tiêu tại các vùng sản xuất ngày 4/8

Thị trường tiêu nội địa chưa ghi nhận động thái điều chỉnh mới trong sáng nay. Giá thu mua giữa các vùng được duy trì trong biên độ hẹp, từ 138.000 đồng/kg đến 141.000 đồng/kg.

Tại Lâm Đồng, khu vực trồng tiêu thuộc Đắk Nông cũ tiếp tục giữ giá 141.000 đồng/kg. Đây là mức cao nhất cả nước và không thay đổi so với ngày hôm qua.

Đắk Lắk xếp sau với 140.000 đồng/kg. Khoảng cách giữa hai vùng dẫn đầu hiện chỉ còn 1.000 đồng/kg.

Nhóm địa phương có giá thấp nhất gồm Gia Lai, Đồng Nai và TP. Hồ Chí Minh. Tại Gia Lai, thương lái thu mua với giá 138.000 đồng/kg. Đồng Nai, bao gồm vùng Bình Phước cũ, cùng giữ mức 138.000 đồng/kg. Khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu cũ tại TP. Hồ Chí Minh cũng giao dịch ở mức tương tự.

Với diễn biến trên, giá tiêu hôm nay 4/8/2026 tiếp tục giữ ổn định. Biên độ giữa các vùng chỉ ở mức 3.000 đồng/kg, thấp hơn đáng kể so với nhiều thời điểm biến động mạnh trước đây.

Giá tiêu đen thế giới dao động từ 5.700–9.300 USD/tấn

Dữ liệu cập nhật từ thị trường quốc tế cho thấy các nhà xuất khẩu lớn chưa điều chỉnh báo giá.

Brazil hiện có giá tiêu đen thấp nhất, với loại ASTA 570 đạt 5.700 USD/tấn. Tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l được chào bán ở mức 5.970 USD/tấn, cao hơn hàng Brazil 270 USD/tấn.

Với sản phẩm loại 550 g/l, giá tiêu đen Việt Nam đạt 6.050 USD/tấn. Tiêu đen Lampung của Indonesia cao hơn, đứng ở mức 6.760 USD/tấn.

Malaysia giữ vị trí cao nhất trong nhóm tiêu đen. Sản phẩm Kuching ASTA tại quốc gia này có giá 9.300 USD/tấn, cao hơn 3.600 USD/tấn so với hàng Brazil.

Ở nhóm tiêu trắng, giá tại Malaysia đạt 12.200 USD/tấn. Tiêu trắng Muntok của Indonesia giữ mức 9.317 USD/tấn, còn sản phẩm Việt Nam đạt 8.350 USD/tấn. Toàn bộ các mức giá trên đều không đổi so với phiên trước.

Tiêu đen tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực

Theo thống kê của cơ quan hải quan, lượng hạt tiêu Việt Nam xuất khẩu trong quý II/2026 đạt 79,8 nghìn tấn, tăng 20,8% so với quý I. Trị giá xuất khẩu đạt 519,3 triệu USD, tăng 20,6%.

So với quý II năm ngoái, lượng hàng tăng 5,1% nhưng số tiền thu về giảm 0,8%. Khoảng cách này xuất phát từ giá xuất khẩu bình quân giảm xuống còn 6.503 USD/tấn.

Mức giá bình quân nói trên thấp hơn 0,2% so với quý I/2026 và giảm 5,6% so với quý II/2025. Vì vậy, tốc độ tăng kim ngạch thấp hơn tốc độ tăng sản lượng.

Trong cơ cấu hàng xuất khẩu, tiêu đen và tiêu đen xay chiếm 84,1%, tăng so với tỷ trọng 83,4% của cùng kỳ năm trước. Đây tiếp tục là nhóm sản phẩm quyết định phần lớn kết quả xuất khẩu của toàn ngành.

Sản lượng tiêu đen nguyên hạt xuất khẩu trong quý II tăng 5,8% so với cùng kỳ. Tiêu đen xay tăng 7,7%, còn tiêu trắng xay tăng 3,3%. Riêng tiêu trắng nguyên hạt giảm 8,3%.

Tính từ đầu năm đến hết tháng 6, Việt Nam đã xuất khẩu 100,2 nghìn tấn tiêu đen, đạt trị giá 651,1 triệu USD. Lượng hàng tăng 19,1%, còn kim ngạch tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2025.

Kết quả này cho thấy tiêu đen vẫn là trụ cột của ngành. Tuy nhiên, tốc độ tăng trị giá thấp hơn sản lượng phản ánh áp lực giảm giá đang ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả xuất khẩu.

BẢN 4

Giá tiêu hôm nay 4/8/2026: Giá nội địa đứng yên, vì sao xuất khẩu tăng lượng nhưng giảm kim ngạch?

Giá tiêu hôm nay 4/8/2026 tiếp tục neo trong khoảng 138.000–141.000 đồng/kg. Đáng chú ý, xuất khẩu quý II tăng 5,1% về lượng so với cùng kỳ nhưng kim ngạch lại giảm 0,8% do giá bình quân đi xuống.

Giá tiêu hôm nay chưa thoát khỏi vùng đi ngang

Phiên giao dịch sáng 4/8 không mang đến biến động mới cho thị trường hồ tiêu trong nước. Giá thu mua tại các vùng trồng chính giữ nguyên so với hôm qua, với mức thấp nhất 138.000 đồng/kg và cao nhất 141.000 đồng/kg.

Lâm Đồng vẫn là điểm sáng về giá. Tại vùng Đắk Nông cũ, hồ tiêu được mua với giá 141.000 đồng/kg, dẫn đầu bảng khảo sát.

Đắk Lắk duy trì mức 140.000 đồng/kg, thấp hơn địa phương dẫn đầu 1.000 đồng/kg. Đây cũng là vùng duy nhất ngoài Lâm Đồng có giá đạt từ 140.000 đồng/kg trở lên.

Giá tiêu tại Gia Lai đạt 138.000 đồng/kg. Đồng Nai giữ cùng mức tại các vùng sản xuất, bao gồm khu vực Bình Phước cũ. Ở khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu cũ thuộc TP. Hồ Chí Minh, giá thu mua cũng dừng ở 138.000 đồng/kg.

Như vậy, giá tiêu trong nước hôm nay 4/8/2026 đang phân thành ba mốc chính gồm 138.000 đồng/kg, 140.000 đồng/kg và 141.000 đồng/kg. Việc tất cả địa phương cùng đứng giá cho thấy giao dịch hiện khá cân bằng.

Giá tiêu xuất khẩu đồng loạt giữ nguyên

Không chỉ thị trường nội địa, giá hồ tiêu thế giới cũng chưa có biến động đáng kể.

Tiêu đen Brazil ASTA 570 tiếp tục là sản phẩm có giá thấp nhất, đạt 5.700 USD/tấn. Giá tiêu đen Việt Nam cao hơn đôi chút, với loại 500 g/l ở mức 5.970 USD/tấn và loại 550 g/l đạt 6.050 USD/tấn.

Indonesia chào bán tiêu đen Lampung với giá 6.760 USD/tấn. Malaysia giữ mức 9.300 USD/tấn đối với tiêu đen Kuching ASTA, cao nhất trong số các nước được khảo sát.

Đối với tiêu trắng, giá của Malaysia đạt 12.200 USD/tấn. Indonesia đứng ở mức 9.317 USD/tấn với tiêu trắng Muntok, còn Việt Nam giữ giá 8.350 USD/tấn.

Diễn biến ổn định của giá tiêu thế giới hôm nay 4/8/2026 cho thấy thị trường chưa xuất hiện yếu tố đủ mạnh để tạo ra một xu hướng mới trong ngắn hạn.

Nghịch lý lượng xuất khẩu tăng, giá trị thu về giảm

Quý II/2026, Việt Nam xuất khẩu 79,8 nghìn tấn hạt tiêu với tổng trị giá 519,3 triệu USD. So với quý đầu năm, sản lượng tăng 20,8% và kim ngạch tăng 20,6%.

Tuy nhiên, nếu đặt cạnh quý II/2025, bức tranh lại khác. Lượng hàng xuất khẩu tăng 5,1% nhưng trị giá giảm 0,8%.

Nguyên nhân nằm ở giá xuất khẩu bình quân. Mỗi tấn hồ tiêu trong quý II chỉ đạt trung bình 6.503 USD, giảm 0,2% so với quý I và thấp hơn 5,6% so với cùng kỳ năm trước.

Có thể hiểu rằng doanh nghiệp đã bán được nhiều hàng hơn nhưng mức giá trên mỗi tấn thấp hơn. Phần sản lượng tăng thêm chưa đủ bù đắp hoàn toàn tác động từ đà giảm giá, khiến tổng kim ngạch thấp hơn cùng kỳ.

Tiêu đen chiếm hơn 4/5 cơ cấu xuất khẩu

Tiêu đen và tiêu đen xay tiếp tục là hai nhóm hàng quan trọng nhất, chiếm tổng tỷ trọng 84,1% trong quý II/2026. Cùng kỳ năm trước, con số này ở mức 83,4%.

Lượng tiêu đen xuất khẩu tăng 5,8%, tiêu đen xay tăng 7,7% và tiêu trắng xay tăng 3,3%. Trái lại, tiêu trắng nguyên hạt giảm 8,3%.

Trong 6 tháng đầu năm, riêng mặt hàng tiêu đen đạt sản lượng xuất khẩu 100,2 nghìn tấn, mang về 651,1 triệu USD. So với nửa đầu năm 2025, sản lượng tăng 19,1% và trị giá tăng 15,6%.

Hoạt động xuất khẩu hồ tiêu vẫn duy trì đà tăng trưởng, song phần lớn động lực đến từ khối lượng hàng bán ra. Để cải thiện kim ngạch, bên cạnh mở rộng thị trường, việc nâng chất lượng sản phẩm, tăng tỷ lệ chế biến sâu và giảm phụ thuộc vào hàng thô sẽ giữ vai trò quan trọng.

Văn Khoa

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ