🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Giá nông sản hôm nay (29/6): Giá cà phê bật tăng trở lại, giá tiêu neo cao

8 giờ trước
Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

Ngày 29/6, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO

Giá lúa gạo hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động.

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 hôm nay dao động ở mức 9.100 - 9.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 10.750 - 10.090 đồng/kg.

Giá lúa gạo hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động

Tại các chợ lẻ, giá gạo đứng giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 14.500 - 15.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 16.000 - 17.000 đồng/kg, gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.

Phân khúc nếp không biến động. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg.

Với mặt hàng lúa, giá lúa tươi IR 50404 hôm nay dao động ở mức 5.400 - 5.600 đồng/kg; lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.200 - 6.300 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.100 - 6.300 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.400 - 5.600 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.700 - 5.800 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo thơm 5% tấm của Việt Nam tăng 10 USD/tấn trong tuần qua, lên mức 495 - 500 USD/tấn. Tương tự, giá gạo Jasmine tăng nhẹ 3 USD/tấn so với tuần trước, dao động từ 508 - 512 USD/tấn; gạo trắng 5% tấm cũng tăng 2 USD/tấn, giao dịch trong khoảng 412 - 416 USD/tấn.

Ở các thị trường cạnh tranh, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan được chào bán từ 480 - 484 USD/tấn, tăng 7 USD/tấn so với tuần trước. Sản phẩm cùng loại của Pakistan cũng tăng 9 USD/tấn, đạt 399 - 403 USD/tấn.

Giá gạo của Ấn Độ vẫn ở vùng thấp nhất trong nhóm các nước xuất khẩu lớn, với gạo trắng 5% tấm đạt 350 - 354 USD/tấn, tăng 3 USD/tấn; gạo đồ 5% tấm ở mức 341 - 345 USD/tấn, tăng 5 USD/tấn.

GIÁ CÀ PHÊ

Kết thúc tuần giao dịch, thị trường cà phê trong nước ghi nhận xu hướng phục hồi nhẹ tại khu vực Tây Nguyên. Giá thu mua phổ biến dao động từ 89.400 - 90.000 đồng/kg, tăng từ 400 - 700 đồng/kg so với cuối tuần trước.

Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất cả nước khi tăng khoảng 700 đồng/kg, đưa giá cà phê lên ngưỡng 90.000 đồng/kg.

Tại Gia Lai và Đắk Lắk, giá cà phê cùng tăng khoảng 600 đồng/kg, hiện được giao dịch ở mức 89.400 đồng/kg.

Lâm Đồng vẫn là địa phương có mức giá thấp nhất trong nhóm khảo sát, tuy nhiên cũng tăng thêm khoảng 400 đồng/kg, lên 89.400 đồng/kg.

Giá cà phê trong nước tuần qua tăng 400 - 700 đồng/kg

Theo các doanh nghiệp thu mua, việc giá quay trở lại vùng 90.000 đồng/kg đã kích thích một bộ phận nông dân bán ra để chốt lợi nhuận. Tuy nhiên, không ít hộ vẫn tiếp tục giữ hàng với kỳ vọng giá sẽ còn cải thiện trong thời gian tới.

Trên thị trường quốc tế, giá cà phê khép lại tuần với diễn biến tích cực trên cả hai sàn giao dịch lớn.

Trên sàn London, giá cà phê Robusta giao tháng 7/2026 tăng 177 USD/tấn, tương đương gần 5% so với tuần trước, lên mức 3.817 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 9/2026 cũng tăng khoảng 35 USD/tấn, đạt 3.627 USD/tấn.

Trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 7 tăng khoảng 4,2%, lên 286,75 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 9 cũng tăng khoảng 2%, đạt 273,2 US cent/pound.

GIÁ TIÊU

Khảo sát tại các vùng trồng hồ tiêu trọng điểm cho thấy giá tiêu trong nước sáng 29/6 tiếp tục dao động trong khoảng 137.000 - 139.000 đồng/kg.

So với phiên trước, thị trường nhìn chung không có nhiều biến động. Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) là địa phương duy nhất ghi nhận mức giảm nhẹ 500 đồng/kg, đưa giá thu mua về 137.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại tiếp tục giữ nguyên mặt bằng giá.

Dù diễn biến trong ngày khá trầm lắng, tính chung cả tuần, giá hồ tiêu nội địa vẫn tăng từ 500 - 1.000 đồng/kg so với tuần trước.

Đắk Lắk và Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là hai địa phương có giá cao nhất cả nước, đạt 139.000 đồng/kg, tăng khoảng 1.000 đồng/kg so với cuối tuần trước.

Gia Lai và Đồng Nai cũng ghi nhận mức tăng tương tự, hiện cùng giao dịch ở mức 137.000 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu khép lại tuần giao dịch với những diễn biến không đồng nhất giữa các quốc gia sản xuất lớn.

Theo số liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia giảm khoảng 54 USD/tấn trong tuần, xuống còn 7.121 USD/tấn. Ngược lại, giá tiêu đen Brazil loại ASTA 570 tăng thêm 50 USD/tấn, lên mức 5.900 USD/tấn, cho thấy nhu cầu đối với nguồn cung từ quốc gia Nam Mỹ đang có dấu hiệu cải thiện. Trong khi đó, giá tiêu đen Malaysia tiếp tục đi ngang ở mức 9.350 USD/tấn.

Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l vẫn ổn định trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn.

Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu Muntok của Indonesia giảm nhẹ còn 9.252 USD/tấn, trong khi Malaysia và Việt Nam tiếp tục giữ nguyên lần lượt ở mức 12.250 USD/tấn và 9.000 USD/tấn.

GIÁ CAO SU

Giá thu mua mủ cao su tại Việt Nam trong ngày 28/6 vẫn giữ mức ổn định. Cụ thể, tại Công ty Cao su Bà Rịa thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 505 đồng/độ TSC/kg; thu mua tại đội sản xuất 495 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) 18.000 đồng/kg.

Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).

Nhìn chung, sự ổn định của thị trường nội địa cho thấy nhu cầu nguyên liệu của các nhà máy chế biến trong nước vẫn duy trì ở mức cân bằng, ít chịu tác động tức thì từ tâm lý bán tháo trên các sàn giao dịch kỳ hạn quốc tế.

Trong nước, giá thu mua mủ cao su tại các doanh nghiệp lớn tiếp tục duy trì ổn định

Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn Tocom Tokyo - Nhật Bản tiếp tục giảm mạnh tại các kỳ hạn. Cụ thể, tại hợp đồng tháng 7/2026 giảm 11,10 Yên/kg (- 2,76%), về mức 402,30 Yên/kg; kỳ hạn tháng 8/2026 giảm 13,20 Yên/kg (- 3,28%), xuống mức 402,30 Yên/kg; hợp đồng tháng 9/2026 2026 giảm 12,20 Yên/kg (- 3,01%), về mức 405,50 Yên/kg.

Trên sàn SHFE Thượng Hải - Trung Quốc , giá cao su tự nhiên vẫn tiếp tục giảm tại các kỳ giao hàng. Cụ thể, hợp đồng tháng 7/2026 giảm 170 Nhân dân tệ/tấn (- 1,02%), xuống mức 16.460 NDT/tấn; kỳ hạn tháng 8/2026 giảm 75 Nhân dân tệ/tấn (- 0,45%), xuống mức 16.515 Nhân dân tệ/tấn; hợp đồng tháng 9/2026 giảm 70 Nhân dân tệ/tấn (- 0,42%), về mức 16.545 Nhân dân tệ/tấn.

Trên Sàn SICOM - Singapore, hợp đồng cao su giao tháng 7 cũng giảm mạnh 6,9%, xuống còn 207,5 US cent/kg, phản ánh tâm lý thận trọng của nhà đầu tư trước triển vọng tiêu thụ năng lượng và nguyên liệu thô.

Song song với yếu tố nguồn cung, giá cao su còn chịu sức ép từ diễn biến tiêu cực của thị trường năng lượng. Giá dầu thế giới tiếp tục giảm về vùng thấp nhất kể từ trước thời điểm xung đột Iran – Israel bùng phát, khi thị trường kỳ vọng nguồn cung từ Trung Đông sẽ gia tăng trong thời gian tới.

Diễn biến này có tác động trực tiếp đến cao su tự nhiên, do sản phẩm này cạnh tranh với cao su tổng hợp sản xuất từ dầu mỏ. Khi giá dầu giảm, chi phí sản xuất cao su tổng hợp hạ xuống, làm gia tăng sức ép cạnh tranh lên cao su tự nhiên.

Theo các nhà phân tích, thị trường cao su đang bị chi phối đồng thời bởi ba yếu tố: nguồn cung gia tăng, đồng USD mạnh và giá dầu suy yếu. Trong ngắn hạn, các biến động từ xuất khẩu Thái Lan và xu hướng năng lượng toàn cầu sẽ tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt chính đối với giá cao su.

GIÁ THỊT LỢN

Tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay giảm tại một số địa phương, trong khi các tỉnh còn lại giữ giá ổn định. Cụ thể, các địa phương gồm Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Điện Biên và Phú Thọ cùng giảm 1.000 đồng/kg, đưa giá lợn hơi tại các khu vực này xuống mức 66.000 đồng/kg.

Sau điều chỉnh, nhóm địa phương có giá cao nhất khu vực ở mức 67.000 đồng/kg gồm Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hà Nội và Hưng Yên.

Bên cạnh đó, Tuyên Quang, Lào Cai, Lai Châu và Sơn La tiếp tục duy trì mức 66.000 đồng/kg sau khi không ghi nhận biến động mới.

Hiện giá lợn hơi miền Bắc dao động từ 66.000 đồng/kg đến 67.000 đồng/kg.

Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay giảm 1.000 đồng/kg tại một số địa phương, trong khi phần lớn thị trường tiếp tục giữ ổn định.

Cụ thể, Thanh Hóa giảm 1.000 đồng/kg, hiện giao dịch ở mức 66.000 đồng/kg. Gia Lai và Lâm Đồng cùng giảm 1.000 đồng/kg, đưa giá lợn hơi tại hai địa phương này xuống mức 62.000 đồng/kg.

Nhìn chung, giá lợn hơi hôm nay ghi nhận xu hướng điều chỉnh giảm nhẹ tại một số địa phương miền Bắc và miền Trung - Tây Nguyên, trong khi miền Nam tiếp tục ổn định

Sau biến động, mức giá cao nhất khu vực 66.000 đồng/kg được ghi nhận tại Thanh Hóa và Nghệ An.

Các địa phương Hà Tĩnh tiếp tục giữ mức 65.000 đồng/kg, Quảng Trị duy trì mức 64.000 đồng/kg. Nhóm địa phương Huế, Đà Nẵng và Quảng Ngãi cùng giao dịch ở mức 63.000 đồng/kg.

Trong khi đó, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Gia Lai và Lâm Đồng cùng giữ mức 62.000 đồng/kg, thấp nhất khu vực.

Hiện giá lợn hơi miền Trung - Tây Nguyên dao động từ 62.000 đồng/kg đến 66.000 đồng/kg.

Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay không biến động, thị trường duy trì trạng thái đi ngang. Đồng Nai tiếp tục là địa phương có giá lợn hơi cao nhất khu vực với mức 63.000 đồng/kg.

Trong khi đó, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang và Cà Mau cùng duy trì mức 61.000 đồng/kg, thấp nhất cả nước.

Các địa phương gồm TP Hồ Chí Minh, Vĩnh Long và Cần Thơ tiếp tục giao dịch ở mức 62.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn hơi miền Nam dao động từ 61.000 đồng/kg đến 63.000 đồng/kg.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Minh Hoàng

TIN LIÊN QUAN


































Home Icon VỀ TRANG CHỦ