GDP tăng hơn 70 lần, Việt Nam cần gì để bước lên nấc thang thu nhập cao?
GDP tăng mạnh, nhưng năng suất là điểm nghẽn
Phát biểu tại hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới” ngày 20/8, GS.TS Ngô Thắng Lợi, Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Quốc dân, cho biết, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.
Bình quân mỗi năm, GDP Việt Nam tăng khoảng 6,4%, gấp đôi mức tăng trưởng bình quân toàn cầu và cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực.
Nhìn lại quá trình phát triển, ông Lợi cho rằng Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tạo tiền đề để bước vào giai đoạn phát triển mới.
Năm 1990, tổng GDP của Việt Nam chỉ đạt khoảng 6,7 tỷ USD, xếp thứ 85 thế giới. Sau khoảng 35 năm, GDP đã vượt mốc 500 tỷ USD, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 35 thế giới, với quy mô nền kinh tế tăng hơn 70 lần.
Cùng thời điểm năm 1990, GDP của Thái Lan đạt 85 tỷ USD và xếp thứ 35 thế giới. Sau 35 năm, GDP Thái Lan chỉ còn cao hơn Việt Nam khoảng 12% và tăng thêm 5 bậc trên bảng xếp hạng toàn cầu.

Hội thảo khoa học Quốc gia: “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới” do Đại học Kinh tế Quốc dân phối hợp cùng Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản và Đại học Kinh tế TPHCM tổ chức sáng 20/8. Ảnh: Nguyễn Lê
Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam cũng được cải thiện mạnh. Năm 1990, mức thu nhập này đạt 99 USD/năm, xếp thứ 122/130 quốc gia được xếp hạng. Năm 2009, Việt Nam chính thức thoát khỏi nhóm nước có thu nhập thấp để bước vào nhóm thu nhập trung bình thấp.
Đến năm 2026, Việt Nam được xếp vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Trong khi đó, Thái Lan mất 23 năm, Philippines và Indonesia mất khoảng 30-31 năm để thực hiện bước chuyển này.
Theo GS.TS Nguyễn Trọng Hoài, Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TPHCM, sau 40 năm Đổi mới (kể từ năm 1986), Việt Nam đi từ một điểm xuất phát thấp để trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao. Tuy nhiên, để trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải vượt qua nhiều thách thức, nhất là khi mô hình tăng trưởng hiện tại đang dần chạm tới giới hạn.
Một trong những điểm nghẽn lớn là năng suất. Dữ liệu cho thấy tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam còn thấp so với các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi. Tốc độ tăng trưởng vốn công nghệ thông tin và chất lượng lao động cũng còn hạn chế.
Để bắt kịp các nền kinh tế mới nổi, tăng trưởng chất lượng lao động của Việt Nam phải cao gấp 4 lần, trong khi đầu tư vốn công nghệ thông tin phải tăng gấp 5 lần hiện tại.
Dư địa tăng năng suất từ chuyển đổi cơ cấu cũng đang giảm dần. Việc chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp chế tạo, từ nông thôn ra thành thị không còn tạo động lực mạnh như trước. Điều này đòi hỏi mô hình phát triển phải dựa nhiều hơn vào chất lượng lao động, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Xuất khẩu tăng mạnh nhưng giá trị gia tăng tạo ra trong nước còn thấp. Một điểm nghẽn khác là sự liên kết còn yếu giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước. Các mặt hàng xuất khẩu công nghệ tăng nhanh nhưng phần lớn nằm trong khu vực FDI, trong khi tỷ lệ giá trị gia tăng trên tổng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước lại giảm. Điều này cho thấy tác động lan tỏa và chuyển giao công nghệ từ FDI chưa tương xứng.
Muốn bứt phá, Việt Nam phải biến FDI và công nghệ thành nội lực
Theo nhóm nghiên cứu Đại học Kinh tế TPHCM, nếu tiếp tục mô hình tăng trưởng cũ, Việt Nam khó đạt mục tiêu thu nhập cao. Ngược lại, nếu cải cách mạnh mẽ và tập trung xử lý đúng các điểm nghẽn, Việt Nam có khả năng trở thành quốc gia thu nhập cao vào khoảng năm 2045-2047.
Trong kịch bản cải cách, tăng trưởng TFP cần tăng từ khoảng 0,2% lên trung bình 2% mỗi năm. Nỗ lực cải cách phải tập trung vào đầu tư cho công nghệ và đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời nâng cao nội lực của doanh nghiệp trong nước.

Trong khuôn khổ hội thảo, Đại học Kinh tế Quốc dân và Đại học Kinh tế TPHCM thực hiện Lễ ký kết Thỏa thuận về hợp tác nghiên cứu và tư vấn chính sách công. Ảnh: Nguyễn Lê
Thu hút FDI thế hệ mới cũng cần gắn với chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Về chính sách, GS.TS Nguyễn Trọng Hoài cho rằng cốt lõi là chuyển từ mô hình 1i, thuần dựa vào đầu tư, sang mô hình 3i gồm Investment (đầu tư), Infusion (lan tỏa công nghệ) và Innovation (đổi mới sáng tạo).
Ba trụ cột quan trọng là nâng cao nội lực doanh nghiệp trong nước; thúc đẩy lan tỏa công nghệ từ doanh nghiệp nước ngoài; đưa doanh nghiệp Việt Nam lên những nấc thang có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong khi đó, GS.TS Sử Đình Thành, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, nguyên Giám đốc Đại học Kinh tế TPHCM, chia sẻ kết quả nghiên cứu về các điều kiện cần thiết để đạt mức tăng trưởng kinh tế hai con số dựa trên dữ liệu của 165 quốc gia trong hơn nửa thế kỷ.
Nghiên cứu xác định 4 yếu tố then chốt gồm tỷ lệ đầu tư, tỷ trọng ngành chế biến chế tạo giá trị cao, quy mô chi tiêu chính phủ và khả năng kiểm soát lạm phát.
Theo vị chuyên gia, Việt Nam có độ mở thương mại và thu hút FDI rất lớn nhưng khả năng chuyển hóa các nguồn lực này thành giá trị nội tại trong ngành chế tạo vẫn còn hạn chế.
Vì vậy, Việt Nam cần tránh phụ thuộc thuần túy vào số lượng vốn đầu tư mà phải tập trung nâng cao nội lực và dịch chuyển cơ cấu kinh tế sang các ngành có hàm lượng giá trị gia tăng cao.
Ông cho rằng, cần có cơ chế chuyển hóa dòng vốn FDI và độ mở thương mại thành năng lực công nghệ và nội lực thực tế của doanh nghiệp trong nước. Sự kết hợp giữa hội nhập và nâng cao nội lực mới có thể tạo ra sự cộng hưởng, thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế mạnh mẽ.
Nguyễn Lê
46 phút trước
2 giờ trước
6 giờ trước
2 phút trước
8 phút trước
22 phút trước
1 giờ trước
8 phút trước
10 phút trước
13 phút trước
14 phút trước
17 phút trước
18 phút trước
18 phút trước
21 phút trước