🔍
Chuyên mục: Văn hóa

(Emagazine) Nghệ thuật tạo hình gốm men Chăm và sức sống di sản

3 giờ trước
Nghệ thuật tạo hình gốm men Chăm không chỉ là kết tinh của kĩ thuật thủ công truyền thống mà còn là di sản văn hóa mang đậm bản sắc cộng đồng người Chăm qua nhiều thế kỉ. Tuy nhiên, trước những biến động của đời sống hiện đại và sức ép của thị trường, di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp này đang đối mặt với không ít thách thức trong hành trình gìn giữ và trao truyền.

Từ chiếc ché cổ đến bục kê không bàn xoay

Nghệ thuật tạo hình là tấm gương phản chiếu rõ nét nhất bản sắc của một dân tộc. Trong bức tranh tổng thể ấy, gốm men Chăm hiện lên như một biểu hiện sinh động của sự hòa quyện giữa truyền thống bản địa, tín ngưỡng tâm linh và dấu ấn giao lưu văn hóa quốc tế.

Một ngày giữa tháng Sáu, dải đất miền Trung nắng như đổ lửa, cái khô nóng hầm hập phả vào mặt rát bỏng. Chúng tôi tìm về vùng đất Nam Khánh Hòa – thủ phủ của văn hóa Chăm đậm đặc – để đi tìm câu trả lời cho số phận của những dòng gốm cổ.

Gốm men Chăm khai quật tại Gò Cây Me, An Nhơn, Bình Định 2017 (nay là Gia Lai). Ảnh: Viện Nghiên cứu Kinh thành

Tiếp chúng tôi bên những hiện vật gốm bám vệt thời gian, ThS. Lê Xuân Lợi – Phó Giám đốc Trung tâm Di sản văn hóa tỉnh Khánh Hòa, một người dành hơn nửa đời người đau đáu với văn hóa Chăm, trầm giọng chia sẻ: "Nghệ thuật tạo hình gốm không đơn thuần là nhào nặn. Đó là sự kết hợp tinh tế giữa kĩ thuật thủ công điêu luyện và trí tưởng tượng phong phú của nghệ nhân để định hình đất sét thành tác phẩm nghệ thuật.

Mỗi sản phẩm đều mang câu chuyện văn hóa, thẩm mĩ và lối sống riêng của từng thời kì. Do chế tác hoàn toàn bằng tay, các tác phẩm gốm men Chăm xưa và nay đều là những bản thể độc nhất vô nhị."

Nhà nghiên cứu văn hóa Chăm thuyết trình về con rồng trên gốm men tại Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Chăm

Ngược dòng thời gian, gốm men Chăm xưa là đỉnh cao của sự giao thoa kỹ thuật giữa Chăm cổ, gốm Việt và gốm Trung Hoa. Những chiếc ché men Chăm cổ từng là tài sản vô giá, biểu tượng cho uy tín, gia thế và quyền lực tối cao của các dòng họ dọc đại ngàn Trường Sơn - Tây Nguyên.

Là người có nhiều năm lăn lộn, tìm hiểu, nghiên cứu ThS. Lê Xuân Lợi chia sẻ về một nghịch lí đầy nhân văn: Cư dân Tây Nguyên không tự làm ra ché, nhưng họ lại chính là những người giữ ché vẹn toàn và trân trọng nhất.

Hãy thử một lần tưởng tượng, giữa đại ngàn mênh mông trầm mặc, bên bếp lửa bập bùng và tiếng cồng chiêng ngân vang trầm bổng, bóng dáng của các vị già làng, trưởng bản cùng những chàng trai, cô gái bản địa đang soi mình, in hình lên lớp men huyền ảo của chiếc ché cổ Chăm.

Đó chính là giá trị linh thiêng - một thứ "hồn cốt" độc bản mà các dòng gốm công nghiệp bóng bẩy, rập khuôn ngày nay dù có tinh xảo đến đâu cũng hoàn toàn bất lực, không bao giờ tái hiện nổi.

Chúng tôi đã nhiều lần đến "thánh địa" Bàu Trúc để ghi nhận, dẫu gốm Chăm hiện đại ngày nay đã vắng bóng lớp men tráng thuở nào, nhưng cái “lõi” kĩ nghệ độc nhất vô nhị - nơi người thợ "làm bằng tay, xoay bằng mông"- vẫn được những truyền nhân muôn năm cũ kiên cường giữ vẹn nguyên.

Tượng gốm men Chăm trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh

Ở đây, người ta vẫn nói không với bàn xoay, từ chối khuôn đúc; họ nung gốm lộ thiên bằng củi rơm và phó mặc cho khói lửa tự tay hòa sắc, tạo màu. Nhìn những người thợ gốm nhịp nhàng đi giật lùi, tự lấy thân mình làm bàn xoay sống để thổi hồn vào khối đất thô ráp, biến chúng thành những chiếc bình mang đường cong mềm mại, chúng tôi mới thấu hiểu thế nào là kiệt tác thủ công.

Chính sự mộc mạc, thô ráp đầy ấy đã thuyết phục được UNESCO vinh danh Nghệ thuật làm gốm của người Chăm vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại vào năm 2022.

Thế nhưng, khi tiếng vỗ tay chúc mừng từ đấu trường quốc tế lắng xuống, câu hỏi gai góc lại hiện ra: Tấm bằng vinh danh ấy liệu có đủ sức che chở, cứu rỗi cho những làng nghề cổ trước bài toán cơm áo gạo tiền khốc liệt của thời cuộc?

Giải pháp "sống còn" để hồi sinh di sản

Dù đã được vinh danh ở tầm quốc tế, gốm Chăm truyền thống hiện đang phải đối mặt với những thách thức sinh tồn khốc liệt trước làn sóng của cơ chế thị trường. Cơn lốc đô thị hóa với những con đường bê tông hóa đã và đang thu hẹp không gian làng nghề, khiến những cánh đồng đất sét quý hiếm như Hamu tanu Lan tại Bàu Trúc, hay các vùng khai thác rơm, củi đốt ngày càng khan hiếm, đẩy giá nguyên liệu đầu vào tăng cao.

Theo các cơ sở sản xuất gốm Chăm tại Khánh Hòa, việc sản xuất gốm Chăm hiện nay không chỉ gánh áp lực về chi phí sản xuất, mà còn phải chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các mặt hàng gốm sứ công nghiệp giá rẻ, đa dạng về mẫu mã ở các vùng lân cận, vốn đang lấn át thị trường tiêu thụ vốn đã eo hẹp.

Nghệ nhân say sưa tạo hình gốm Chăm Bàu Trúc

Thực tế bấp bênh ấy dẫn đến một hệ lụy tất yếu là nguy cơ đứt gãy thế hệ, khi thu nhập thấp khiến nhiều gia đình phải bỏ nghề, làng nghề thiếu vắng thế hệ trẻ kế cận, trong khi các chính sách đãi ngộ xứng đáng cho nghệ nhân gạo cội vẫn chưa kịp đáp ứng.

Khó khăn nhất là tư duy làm kinh tế manh mún, khi người thợ gốm vẫn loay hoay trong vòng luẩn quẩn "vừa sản xuất, vừa tự tiêu thụ" mà thiếu đi một chiến lược quảng bá bài bản cũng như cơ hội tiếp cận các nguồn vốn để bứt phá.

Để di sản gốm Chăm "sống" trong đời sống đương đại, ThS. Lê Xuân Lợi cho rằng, tỉnh Khánh Hòa cần xây dựng một chiến lược đồng bộ mang tính thực tiễn cao, kết hợp chặt chẽ từ góc độ quản lí nhà nước đến ý thức của cả cộng đồng.

Trước hết, chính quyền địa phương cần lập tức quy hoạch và cấp phép khai thác bền vững các mỏ đất sét, cát, đồng thời quy hoạch các vùng trồng cây lấy củi nung nhằm bảo vệ triệt để nguồn nguyên liệu đang dần cạn kiệt.

Song song với việc giữ gìn giá trị cốt lõi, bước đi đột phá chính là ứng dụng công nghệ thông tin thông qua việc số hóa và đẩy mạnh thương mại điện tử, chủ động đưa gốm Chăm lên các nền tảng số và kết hợp linh hoạt giữa phương thức bán hàng truyền thống với kinh doanh trực tuyến để sản phẩm tiếp cận thị trường toàn cầu.

Trình diễn nghệ thuật làm gốm Chăm Bàu Trúc

Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch di sản bền vững cũng là một hướng đi tất yếu, trong đó chú trọng xây dựng mô hình du lịch văn hóa làng nghề dạng homestay tại Bàu Trúc và Bình Đức theo kinh nghiệm thành công của các nước Đông Nam Á, nhằm biến không gian làng nghề thành nơi trải nghiệm tương tác đầy hấp dẫn cho du khách.

Đặc biệt, giải pháp cốt lõi mang tính bền vững nhất là phải đưa gốm trở lại với không gian tâm linh bản địa bằng cách vận động phục dựng các truyền thống tốt đẹp, như khuyến khích các hộ gia đình sử dụng lu gốm đựng nước sạch đặt trước cửa nhà-một nét văn hóa vô cùng nhân văn của vùng đất đầy nắng gió.

Cuối cùng, một chiến dịch "nói không với đồ nhựa" tại các đền tháp cần được triển khai mạnh mẽ, nơi Hội đồng chức sắc và các ban phong tục cùng vào cuộc để vận động cộng đồng sử dụng bình gốm Chăm đựng rượu cúng trong các lễ hội lớn như Katê, Yuong Yang, hay Chabun thay vì dùng chai nhựa dùng một lần rồi vứt bỏ.

Điều này không chỉ giữ gìn sự tôn nghiêm cho không gian lễ hội, mà còn mở ra cơ hội kinh tế khi du khách có thể mua lại các bình rượu lễ này như một món quà lưu niệm linh thiêng mang giá trị văn hóa cao, góp phần tạo dựng nguồn thu nhập bền vững cho người dân làng nghề.

Để gốm Chăm phát huy được giá trị kinh tế tiềm tàng, giúp nghệ nhân "sống khỏe" và làm giàu từ chính di sản của cha ông, bản thân người thợ gốm cũng phải tự thay đổi: phải làm đẹp hơn, nhẹ hơn, chất lượng hơn và tinh tế hơn.

Khu trưng bày gốm Chăm Bàu Trúc tại Tháp Bà Pô Nagar

“Sự bảo tồn bền vững nhất chính là sự bảo tồn dựa vào cộng đồng. Nếu tách rời gốm Chăm ra khỏi không gian lễ hội và đời sống tâm linh bản địa, nguy cơ di sản này biến mất chỉ là vấn đề thời gian.

Đã đến lúc cần một cái bắt tay thật chặt giữa Nhà nước, cộng đồng người Chăm và những người làm công tác văn hóa để giữ cho ngọn lửa nung gốm ngàn năm không bao giờ tắt”, nhà nghiên cứu văn hóa Chăm Lê Xuân Lợi nói.

XUÂN HƯỚNG; thiết kế: MẠNH LÊ

















Home Icon VỀ TRANG CHỦ