🔍
Chuyên mục: Sức khỏe - Y tế

Đừng xem nhẹ rối loạn lo âu tuổi học trò

5 giờ trước
Ở tuổi lẽ ra được tận hưởng những ngày tháng học trò, nhiều trẻ lại âm thầm sống trong vòng xoáy của lo âu mà chính các em cũng không gọi tên được. Khi những bất an kéo dài bắt đầu hóa thành mất ngủ, đau đầu, sa sút học tập và thay đổi thể chất, đó không còn là những lo lắng tuổi mới lớn mà có thể là tín hiệu cần được người lớn lắng nghe.

Bác sĩ Viện Sức khoẻ tâm thần thăm khám cho bệnh nhân. Ảnh: Dương Liễu

Khi lo âu trở thành bệnh lý…

N.T.H. (16 tuổi) từng là một học sinh nhiều năm đạt danh hiệu học sinh giỏi và đã đỗ vào đúng ngôi trường cấp 3 mơ ước. Thế nhưng, niềm vui tưởng như rất rõ ràng ấy lại không đủ để xua đi những bất an ngày càng lớn trong lòng nữ sinh. Sau kỳ thi vào lớp 10, H. bắt đầu đau đầu, chóng mặt, khó ngủ. Bước vào năm học mới, những biểu hiện ấy không những không thuyên giảm mà còn kéo dài và trở nên nghiêm trọng hơn.

H. thường xuyên hồi hộp, bồn chồn, cảm thấy bất an dù không có một nguy cơ cụ thể nào trước mắt. Em lo bạn bè không thích mình, sợ bản thân trở thành gánh nặng tài chính cho cha mẹ, dù kết quả học tập vẫn tốt và gia đình hoàn toàn không gặp khó khăn về kinh tế. Những nỗi lo ấy cứ lặp đi lặp lại, chiếm nhiều thời gian và năng lượng của một cô gái đang ở tuổi lẽ ra cần được tận hưởng những trải nghiệm mới mẻ của môi trường trung học.

Đáng chú ý, H. không chia sẻ những điều mình đang trải qua với bố mẹ vì sợ họ lo lắng. Có những đêm em thức đến 2-3 giờ sáng. Tình trạng thiếu ngủ kéo dài khiến H. mệt mỏi, dễ cáu gắt, chán ăn và dần sa sút trong học tập. Ba tháng liên tiếp, em không có kinh nguyệt, kèm theo buồn nôn. Lo lắng trước những thay đổi bất thường của cơ thể, gia đình đưa H. đi khám sản khoa và kiểm tra các nguyên nhân thực thể. Các xét nghiệm cùng kết quả chụp cộng hưởng từ sọ não không phát hiện bất thường. Sau đó, em được chuyển đến chuyên khoa Tâm thần.

Thạc sĩ-bác sĩ Nguyễn Kim Anh, Viện Sức khỏe Tâm thần (Bệnh viện Bạch Mai) cho biết, các biểu hiện của H. phù hợp với rối loạn lo âu ở lứa tuổi học sinh. Trường hợp này cũng cho thấy một đặc điểm đáng lưu ý ở trẻ vị thành niên, các em đôi khi chưa biết hoặc chưa đủ khả năng diễn đạt những vấn đề tâm lý bằng lời. Thay vì nói “em đang rất lo lắng”, trẻ có thể xuất hiện đau đầu, mất ngủ, rối loạn tiêu hóa hoặc những thay đổi về chức năng cơ thể.

H. được điều trị phối hợp thuốc và liệu pháp nhận thức - hành vi (CBT). Sau sáu tháng, tình trạng của em cải thiện rõ rệt, hết đau đầu, ngủ tốt hơn, chu kỳ kinh nguyệt trở lại và khả năng học tập được phục hồi.

Theo Thạc sĩ-bác sĩ Nguyễn Ngọc Trang, Viện Sức khỏe Tâm thần, lo âu bản thân không phải lúc nào cũng là vấn đề bệnh lý. Đây là phản ứng tự nhiên trước những tình huống thử thách, giúp con người chuẩn bị và thích nghi với các sự kiện như thi cử hay thuyết trình. Một mức độ lo lắng nhất định vì thế có thể là động lực để học sinh chuẩn bị tốt hơn cho bài kiểm tra, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ hoặc thích nghi với môi trường mới.

Theo bác sĩ Nguyễn Ngọc Trang, ranh giới đáng lưu ý xuất hiện khi lo âu trở nên quá mức so với hoàn cảnh thực tế, kéo dài nhiều tuần hoặc nhiều tháng, đồng thời gây ảnh hưởng đến học tập, sinh hoạt và các mối quan hệ. Khi đó, sự lo lắng không còn đơn thuần là một cảm xúc nhất thời mà có thể đã trở thành biểu hiện của rối loạn lo âu.

Đừng chờ trẻ lên tiếng mới nhận ra vấn đề

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khoảng một trong bảy trẻ em và thanh thiếu niên từ 10-19 tuổi đang gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần. Rối loạn lo âu là một trong những nhóm rối loạn phổ biến ở lứa tuổi này. Đáng nói, áp lực học tập chỉ là một phần của câu chuyện. Đằng sau sự bất an của trẻ còn có thể là đặc điểm tính cách, lòng tự trọng, kỳ vọng của gia đình, môi trường cạnh tranh ở trường học và áp lực so sánh bản thân trên mạng xã hội.

Điều khiến vấn đề trở nên khó nhận biết là không phải đứa trẻ nào cũng nói ra rằng mình đang lo lắng. Có em mất ngủ, ăn uống thất thường; có em đột ngột giảm kết quả học tập, thay đổi hành vi, thu mình khỏi bạn bè và gia đình; cũng có em liên tục đau đầu, đau bụng nhưng không tìm thấy nguyên nhân thực thể. Nếu chỉ nhìn vào biểu hiện bên ngoài, người lớn rất dễ quy tất cả về sự lười biếng, thất thường hoặc những thay đổi thông thường của tuổi dậy thì.

Thạc sĩ Vũ Sơn Tùng, Viện Sức khỏe Tâm thần (Bệnh viện Bạch Mai) cho rằng, giai đoạn vị thành niên là thời điểm trẻ dễ có những biến động tâm lý và mất cân bằng. Đây cũng là giai đoạn trẻ bắt đầu hình thành quan điểm sống riêng, đề cao quyền riêng tư và cho rằng mình đã lớn, trong khi cha mẹ vẫn muốn định hướng và truyền lại kinh nghiệm. Nếu khoảng cách này không được thu hẹp, trẻ có thể ngày càng ít chia sẻ với gia đình.

Nhiều trẻ im lặng không phải vì không có vấn đề mà vì sợ cha mẹ lo lắng. Trong những gia đình ít kết nối, trẻ thậm chí có thể nghĩ rằng cha mẹ không hiểu mình. Nguy hiểm hơn, những nỗ lực chia sẻ ban đầu của trẻ đôi khi lại bị người lớn vô tình dập tắt bằng những câu tưởng như rất bình thường: “Ai chẳng gặp chuyện đó”, “Ngày trước bố mẹ cũng thế”…

Vì vậy, theo Thạc sĩ Vũ Sơn Tùng, cha mẹ cần trở thành người đồng hành thay vì chỉ đóng vai trò dạy bảo. Một mối quan hệ đủ gần gũi và tin cậy sẽ tạo ra không gian để trẻ nói về những điều khiến mình sợ hãi, áp lực hoặc bất an. Khi đó, những thay đổi về giấc ngủ, ăn uống, hành vi hay kết quả học tập cũng dễ được nhận ra sớm hơn.

PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn, Viện trưởng Viện Sức khỏe Tâm thần (Bệnh viện Bạch Mai) nhấn mạnh rằng, đưa trẻ đi khám tâm lý hoặc tâm thần không phải là “gắn nhãn” cho trẻ mà là cách giúp phát hiện vấn đề và can thiệp đúng lúc. Phụ huynh không nên mặc định rằng một đứa trẻ đau đầu, mất ngủ, cáu gắt hoặc giảm hứng thú học tập là lười học, giả vờ hay đơn giản chỉ đang trải qua những thay đổi của tuổi dậy thì. Khi những tín hiệu ấy bị bỏ qua, trẻ có thể ngày càng thu mình và càng khó mở lời về điều mình đang trải qua.

Để bảo vệ sức khỏe tâm thần học đường, các chuyên gia cho rằng, cần sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và cơ sở y tế. Cha mẹ trước hết cần lắng nghe và tôn trọng cảm xúc của con, tránh phủ nhận bằng những câu như “Có gì đâu mà phải lo”. Kỳ vọng về học tập cũng cần phù hợp với năng lực của trẻ; sự nỗ lực cần được ghi nhận thay vì chỉ nhìn vào điểm số. Một đứa trẻ cần biết rằng giá trị của mình không được quyết định hoàn toàn bởi thành tích trong lớp học.

Bên cạnh đó, trẻ cần duy trì chế độ sinh hoạt lành mạnh, ngủ đủ, ăn uống đầy đủ, vận động thường xuyên và hạn chế sử dụng điện thoại vào ban đêm. Đây là những yếu tố nền tảng giúp cơ thể và tâm lý có điều kiện phục hồi sau những áp lực hằng ngày.

Cha mẹ cũng cần đặc biệt lưu ý khi trẻ lo âu kéo dài nhiều tuần, thường xuyên mất ngủ, kết quả học tập giảm sút đột ngột, thu mình khỏi gia đình và bạn bè hoặc liên tục xuất hiện các triệu chứng như đau đầu, đau bụng nhưng chưa tìm thấy nguyên nhân thực thể. Khi các biểu hiện kéo dài hoặc bắt đầu ảnh hưởng đến học tập, sinh hoạt và cuộc sống, trẻ nên được đưa đến cơ sở y tế có chuyên khoa tâm thần hoặc tâm lý để được đánh giá.

Gia Phong

TIN LIÊN QUAN
















Home Icon VỀ TRANG CHỦ