Đưa tiếng Anh thành môn học bắt buộc từ lớp 1: Triển khai không dễ

Bộ GD-ĐT đang đề xuất đưa tiếng Anh trở thành môn học bắt buộc ngay từ lớp 1. Ảnh minh họa.
Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, được xem là một trong những năng lực quan trọng đối với học sinh. Việc tiếp cận tiếng Anh từ những năm đầu tiểu học vì thế được nhiều chuyên gia giáo dục và giáo viên đánh giá là xu hướng khó tránh khỏi.
Ở lứa tuổi lớp 1, học sinh đang bắt đầu hình thành khả năng ngôn ngữ và thói quen học tập. Nếu được tiếp cận tiếng Anh phù hợp, trẻ có thể làm quen với cách phát âm, từ vựng, phản xạ nghe - nói thay vì chỉ tập trung vào việc ghi nhớ ngữ pháp và làm bài tập khi lớn hơn.
Theo cô Nguyễn Như Lan, giáo viên một trường tiểu học trên địa bàn TP Hà Nội đánh giá, việc đưa tiếng Anh trở thành môn học bắt buộc từ lớp 1 là chủ trương có thể mang lại nhiều lợi ích nếu được triển khai đúng cách.
Theo cô Lan, trẻ càng được tiếp xúc với ngoại ngữ sớm thì càng có cơ hội hình thành phản xạ tự nhiên. "Ở lớp 1, việc học tiếng Anh không nhất thiết phải nặng về kiến thức. Quan trọng nhất là giúp các em làm quen với âm thanh, từ vựng đơn giản, những câu giao tiếp gần gũi và tạo tâm lý yêu thích môn học", cô Lan chia sẻ.
Theo nữ giáo viên, nếu tiếng Anh được tổ chức theo hướng tăng hoạt động giao tiếp, trò chơi, hình ảnh, âm nhạc và tình huống thực tế, học sinh tiểu học sẽ không cảm thấy đây là một môn học nặng nề.
Cô Lan cũng cho rằng, không nên bê nguyên cách dạy tiếng Anh của học sinh lớn xuống lớp 1. Với trẻ nhỏ, càng ít áp lực điểm số, càng chú trọng trải nghiệm thì hiệu quả càng tốt. Bên cạnh đó, nữ giáo viên cũng đề xuất tiếng Anh chỉ là môn học bắt buộc chứ chưa nên đưa kết quả của môn học vào trong bảng đánh giá thành tích cuối năm. "Với nhiều phụ huynh, điều này sẽ gây ra những kỳ vọng về điểm số dẫn đến dễ tạo áp lực lên trẻ", cô Lan nói.
"Bài toán rất khó" ở trường vùng cao
Theo ông Trần Sỹ Hà, Hiệu trưởng Trường PTDTBT Tiểu học Mỹ Lý 2 (Nghệ An), việc đưa tiếng Anh vào giảng dạy từ lớp 1 với nhà trường là một bài toán rất khó. Theo ông Hà, đây có thể là chủ trương phù hợp với yêu cầu nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh trong bối cảnh hội nhập. Tuy nhiên, tại những trường học vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, để hiện thực hóa chủ trương này vẫn còn rất nhiều trở ngại.
Trường PTDTBT Tiểu học Mỹ Lý 2 đóng trên địa bàn vùng cao của tỉnh Nghệ An, nơi phần lớn học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số. Điều kiện học tập của các em còn nhiều hạn chế so với học sinh ở khu vực thuận lợi.
Theo hiệu trưởng nhà trường, tiếng Anh vốn là môn học có đặc thù riêng, đòi hỏi không chỉ giáo viên có chuyên môn mà còn cần các thiết bị hỗ trợ như máy tính, máy chiếu, hệ thống âm thanh, đường truyền Internet và học liệu trực quan. Đây là những điều kiện không dễ bảo đảm tại một điểm trường vùng cao.
"Đối với học sinh ở đây, việc tiếp cận tiếng Anh đã khó, chưa nói đến việc học tiếng Anh một cách bài bản ngay từ lớp 1. Các em chủ yếu sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt trong giao tiếp hằng ngày. Khi làm quen với một ngôn ngữ hoàn toàn mới, các em cần nhiều thời gian và sự hỗ trợ của giáo viên", ông Hà cho biết.
Theo ông, với học sinh ở thành phố, nhiều em đã được làm quen với tiếng Anh từ bậc mầm non, thậm chí được gia đình cho học tại các trung tâm ngoại ngữ. Trong khi đó, với học sinh vùng cao, cơ hội tiếp xúc với tiếng Anh ngoài giờ học gần như không có.

Ông Trần Sỹ Hà, Hiệu trưởng Trường PTDTBT Tiểu học Mỹ Lý 2 (Nghệ An).
Vì vậy, nếu triển khai tiếng Anh bắt buộc từ lớp 1, nhà trường không chỉ cần tổ chức dạy học mà còn phải tính đến việc tạo môi trường để học sinh được nghe, nói và sử dụng ngoại ngữ thường xuyên.
Ông Trần Sỹ Hà cho rằng, khó khăn lớn nhất hiện nay bên cạnh chương trình còn là đội ngũ giáo viên tiếng Anh. Theo vị hiệu trưởng, nhà trường không có giáo viên dạy tiếng Anh. Những năm học trước, việc giảng dạy môn học này đều được nhà trường áp dụng theo phương pháp trực tuyến với sự tham gia giảng dạy của các thầy cô giáo ở trường khác.
Phương án dạy học trực tuyến giúp nhà trường phần nào giải quyết tình trạng thiếu giáo viên, nhưng theo ông Hà, đây chỉ là giải pháp tình thế. Đối với học sinh lớp 1, việc học một ngôn ngữ mới thông qua màn hình máy tính có thể hạn chế khả năng tương tác trực tiếp giữa giáo viên và học sinh. Trong khi đó, ở lứa tuổi này, các em cần được hướng dẫn trực tiếp, sửa phát âm, tổ chức trò chơi, hoạt động nhóm và tạo môi trường giao tiếp sinh động.
"Với học sinh nhỏ tuổi, giáo viên phải tương tác trực tiếp rất nhiều. Các em có thể chưa hiểu ngay một từ, một câu nhưng thông qua hình ảnh, âm thanh, cử chỉ và sự hướng dẫn của giáo viên thì sẽ dần hình thành phản xạ. Nếu chỉ học trực tuyến, hiệu quả chắc chắn sẽ có những hạn chế nhất định", ông Hà nhận định.
Từ thực tế của nhà trường, ông Trần Sỹ Hà cho rằng khi triển khai chủ trương đưa tiếng Anh vào giảng dạy từ lớp 1, cần có cơ chế và lộ trình phù hợp đối với từng vùng miền. Theo ông, bên cạnh việc tuyển dụng và điều động giáo viên, ngành Giáo dục cũng cần có chính sách thu hút giáo viên tiếng Anh về công tác tại vùng đặc biệt khó khăn. Việc hỗ trợ chỗ ở, điều kiện sinh hoạt, chế độ đãi ngộ và môi trường làm việc sẽ là những yếu tố quan trọng để giữ chân giáo viên.
Bà Ngần Thị Lâm, Hiệu trưởng Trường TH-THCS Hang Kia A (Phú Thọ) chia sẻ, nhà trường hiện có 432 học sinh, trong đó 55 em đang theo học lớp 1. Phần lớn học sinh là người dân tộc Mông, sinh sống tại các bản vùng cao nên việc làm quen với môi trường học tập mới sau bậc mầm non còn không ít khó khăn.
Theo nhà trường, một trong những trở ngại lớn nhất nếu đưa tiếng Anh trở thành môn học bắt buộc ngay từ lớp 1 là rào cản ngôn ngữ. Khi mới bước vào tiểu học, nhiều học sinh vẫn chưa sử dụng thành thạo tiếng Việt trong giao tiếp. Việc phải tiếp nhận thêm một ngôn ngữ hoàn toàn mới có thể khiến các em gặp khó khăn trong quá trình học tập.
Ở lứa tuổi này, học sinh trước hết cần có thời gian để củng cố khả năng nghe, nói và sử dụng tiếng Việt - ngôn ngữ được sử dụng trong các môn học chính khóa. Vì vậy, nếu đồng thời phải làm quen với tiếng Anh, giáo viên sẽ cần có phương pháp phù hợp, dành nhiều thời gian hơn để hướng dẫn và hỗ trợ từng học sinh.
Không chỉ gặp khó về học sinh, nhà trường còn phải đối mặt với bài toán thiếu giáo viên tiếng Anh. Hiện Trường TH-THCS Hang Kia A chỉ có 2 giáo viên tiếng Anh phụ trách giảng dạy cho 22 lớp. Với khối lượng lớp học lớn, giáo viên phải đảm nhận số tiết tương đối cao, trong khi còn phải di chuyển giữa nhiều điểm trường.

Bà Ngần Thị Lâm, Hiệu trưởng Trường TH-THCS Hang Kia A (Phú Thọ).
Ngoài điểm trường chính, nhà trường có 3 điểm trường lẻ, cách điểm trường chính khoảng 7-8km. Việc giáo viên phải thường xuyên di chuyển đến các điểm trường này khiến áp lực giảng dạy càng tăng. Do thiếu nhân lực, nhà trường hiện phải tính toán, sắp xếp lớp ghép giữa hai khối để bảo đảm việc tổ chức dạy học.
Nếu tiếng Anh được đưa vào giảng dạy bắt buộc từ lớp 1, nhà trường dự kiến cần bổ sung thêm 2 giáo viên tiếng Anh để có thể tổ chức dạy học ổn định, hạn chế tình trạng giáo viên phải đảm nhận quá nhiều lớp và di chuyển liên tục giữa các điểm trường.
Một khó khăn khác đến từ đặc thù địa bàn. Hang Kia A là trường vùng cao, địa hình chia cắt, trong khi hạ tầng viễn thông tại một số khu vực chưa đáp ứng đầy đủ. Vì vậy, phương án dạy tiếng Anh trực tuyến để khắc phục tình trạng thiếu giáo viên cũng khó triển khai đồng bộ.
Đường truyền Internet không ổn định có thể khiến tiết học bị gián đoạn, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nghe, nói và tương tác của học sinh. Với môn tiếng Anh, đặc biệt ở lớp 1, việc tương tác trực tiếp với giáo viên càng có ý nghĩa quan trọng.
Tuấn Khang
2 giờ trước
3 giờ trước
7 ngày trước
8 ngày trước
52 phút trước
50 phút trước
29 phút trước
12 phút trước
12 phút trước
24 phút trước
27 phút trước
30 phút trước
38 phút trước
40 phút trước
41 phút trước
42 phút trước