🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Dữ liệu vùng trồng: 'Hộ chiếu số' để nông sản Việt vươn tầm quốc tế

1 giờ trước
Việc xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu vùng trồng 'đúng, đủ, sạch, sống' không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu sống còn. Đây chính là giải pháp then chốt để nông nghiệp Việt Nam chuyển đổi từ quản lý phân tán sang nền tảng số thống nhất, tạo đà cho mục tiêu xuất khẩu bền vững.

Truy xuất nguồn gốc xuất xứ không còn là yêu cầu riêng đối với một số mặt hàng hoặc một số thị trường xuất khẩu mà đã trở thành xu thế tất yếu trong quản lý chất lượng - Ảnh minh họa

Áp lực từ những "luật chơi" mới

Năm 2026 được xem là năm bản lề của nông sản Việt khi mục tiêu xuất khẩu toàn ngành đặt ra là trên 74 tỷ USD. Tuy nhiên, áp lực đi kèm cũng vô cùng lớn khi các thị trường trọng điểm như EU, Hoa Kỳ và Trung Quốc liên tục đưa ra các quy định khắt khe về truy xuất nguồn gốc.

Điển hình là Quy định chống mất rừng và suy thoái rừng của Liên minh châu Âu (EUDR). Theo đó, từ ngày 30-12-2026, các sản phẩm chủ lực như cà phê, cao su và gỗ khi xuất khẩu vào EU phải chứng minh được không liên quan đến việc phá rừng và phải truy xuất được đến tận từng lô đất sản xuất.

Hà Nội là địa phương đi đầu trong việc chuẩn hóa dữ liệu. Ông Tạ Văn Tường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, cho biết thành phố đã đồng bộ hơn 10.100 mã sản phẩm và 2.823 tài khoản cơ sở sản xuất vào hệ thống quốc gia. Theo ông Tường: "Việc liên thông dữ liệu không chỉ nâng cao nhận thức của doanh nghiệp mà còn tăng tính minh bạch. Cơ quan quản lý có thể hỗ trợ kiểm soát an toàn thực phẩm đối với hàng nghìn chuỗi cung ứng đang cung cấp hàng hóa cho thị trường Thủ đô".

Xây dựng dữ liệu vùng trồng không chỉ là để đối phó với các quy định như EUDR, mà là bước đi chiến lược để nâng tầm thương hiệu nông sản Việt Nam. Khi dữ liệu được cập nhật "đúng, đủ, sạch, sống" ngay tại thời điểm phát sinh thay vì báo cáo theo tuần hay tháng, nền nông nghiệp Việt Nam mới thực sự chuyển đổi số thành công.

Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Tạ Văn Tường đề xuất thêm: "Cần phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc thành một nền tảng phục vụ cả dịch vụ công, nơi doanh nghiệp có thể kê khai biến động và thực hiện báo cáo trực tiếp. Đây sẽ là nền tảng cho một nền quản trị nông nghiệp hiện đại và minh bạch".

Hiện nay, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chính thức vận hành, thu hút hơn 18.500 sản phẩm từ 170 doanh nghiệp tại 24 tỉnh, thành phố tham gia. Việc liên thông dữ liệu từ địa phương lên trung ương đang giúp các cơ quan quản lý theo dõi điều kiện sản xuất theo thời gian thực.

Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay là đặc thù sản xuất của Việt Nam vẫn dựa trên hàng triệu nông hộ nhỏ lẻ. Ngành gỗ có 1,1 triệu hộ, cà phê có khoảng 700.000 hộ và cao su có 264.000 hộ sản xuất. Mỗi hộ lại canh tác trên nhiều thửa đất phân tán, khiến việc số hóa tọa độ (polygon) từng lô đất trở thành một khối lượng công việc khổng lồ.

Xây dựng cơ sở dữ liệu nền: Nhà nước định hướng, doanh nghiệp đồng hành

Trong khi Nhà nước xây dựng hạ tầng nền tảng, các doanh nghiệp đầu ngành đã chủ động đi trước để bảo vệ chuỗi cung ứng của mình. Nestlé Việt Nam là một ví dụ điển hình với chương trình Nescafé Plan.

Ông Phạm Phú Ngọc, Giám đốc Nông nghiệp và Chương trình Nescafé Plan Việt Nam cho biết: "Dự kiến đến cuối năm 2026, chúng tôi sẽ thu thập trên 40.000 polygons các lô đất canh tác của hộ nông dân. Việc này không chỉ giúp tuân thủ quy định quốc tế mà còn giúp đo lường phát thải khí nhà kính cấp nông hộ, từ đó nâng cao giá trị hạt cà phê Việt".

Tương tự, tại Công ty TNHH Vĩnh Hiệp là một trong những đơn vị xuất khẩu cà phê hàng đầu, dữ liệu vùng trồng được coi là "giấy thông hành" để đàm phán giá với đối tác quốc tế. Ông Thái Như Hiệp, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty Vĩnh Hiệp, khẳng định: "Sản xuất xanh và tăng trưởng xanh đã trở thành yêu cầu bắt buộc. Khi doanh nghiệp có đầy đủ thông tin về định vị vùng trồng, mã số vùng trồng và công nghệ sản xuất minh bạch, khả năng đàm phán giá và vị thế của chúng ta trong chuỗi cung ứng sẽ được nâng cao rõ rệt".

Dù vậy, ông Hiệp cũng thẳng thắn chỉ ra một rủi ro mới phát sinh: tình trạng chồng lấn dữ liệu. Do một hộ nông dân có thể tham gia nhiều chương trình chứng nhận của các doanh nghiệp khác nhau, dẫn đến việc một diện tích đất nhưng lại xuất hiện trong nhiều bộ dữ liệu, gây khó khăn cho việc xác định trách nhiệm pháp lý khi có vi phạm xảy ra. Dữ liệu vùng trồng mang lại giá trị vượt xa mục tiêu truy xuất nguồn gốc. Nó là căn cứ để xây dựng chính sách sát thực tiễn và thu hút đầu tư.

Tại Lễ công bố Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức ngày 30/6 vừa qua, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh truy xuất nguồn gốc xuất xứ không còn là yêu cầu riêng đối với một số mặt hàng hoặc một số thị trường xuất khẩu mà đã trở thành xu thế tất yếu trong quản lý chất lượng, minh bạch thông tin và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Ngành nông nghiệp muốn phát triển bền vững buộc phải xây dựng được thương hiệu và phải làm tốt công tác truy xuất nguồn gốc để chinh phục những thị trường khó tính nhất.

Phó Thủ tướng phân tích, do đặc điểm sản phẩm nông, lâm, thủy sản của nước ta đa dạng nhưng quy mô sản xuất phân tán, số lượng hộ sản xuất rất lớn nên việc triển khai cần có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm hiệu quả và khả thi.

Phó Thủ tướng đề nghị Bộ NN&MT cần sớm triển khai truy xuất nguồn gốc đối với các ngành hàng chủ lực, sản phẩm có sản lượng lớn, giá trị kinh tế cao, phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đặc biệt các thị trường trọng điểm, chiếm tỉ trọng lớn trong xuất khẩu nông sản của Việt Nam như Trung Quốc, EU và Hoa Kỳ.

Trên cơ sở đó, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, tiêu chuẩn, hạ tầng dữ liệu và Hệ thống truy xuất nguồn gốc để từng bước mở rộng đối với các nhóm sản phẩm khác có yêu cầu quản lý cao, có nguy cơ mất an toàn thực phẩm hoặc phải đáp ứng các quy định nghiêm ngặt của từng thị trường tiêu thụ.

Theo baochinhphu.vn

TIN LIÊN QUAN
















Home Icon VỀ TRANG CHỦ