Dự án 2 triệu USD tạo dấu ấn nổi bật cho y tế Việt Nam
Những con đường núi quanh co ở bản Lao Lử Đề, xã Tủa Sín Chải, tỉnh Lai Châu đã trở nên quen thuộc với Sùng Thị Cúc, 28 tuổi, người Mông - cô đỡ thôn bản của dự án kéo dài 4 năm “Không để ai bị bỏ lại phía sau.”

Sùng Thị Cúc, 28 tuổi, người Mông - cô đỡ thôn bản, trú tại bản Lao Lử Đề, xã Tủa Sín Chải, tỉnh Lai Châu. Ảnh: Kiều Thoan Thu
Cúc kể, những cuộc gọi giữa đêm đã trở thành quen thuộc. Mỗi khi có sản phụ trở dạ, dù trời mưa hay đường tối, cô lập tức lên đường. “Tôi muốn giúp các bà mẹ trong bản và những thôn bản lân cận trong suốt thai kỳ, để họ không gặp nguy hiểm đến tính mạng”, cô chia sẻ với Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội.
Những ngày đầu tham gia dự án từ năm 2021, gia đình chồng không đồng ý vì lo công việc vất vả, đi lại nguy hiểm, nhất là vào ban đêm. Nhưng sau khi hiểu được ý nghĩa công việc, họ dần ủng hộ cô. Từ đó, Cúc gắn bó với công việc đầy ý nghĩa này.
Hiện là một trong ba cô đỡ thôn bản phụ trách 13 bản thuộc điểm số 2 của Trạm Y tế xã Tủa Sín Chải, Sùng Thị Cúc không chỉ hỗ trợ các ca sinh mà còn theo dõi thai kỳ, vận động phụ nữ đi khám định kỳ, đồng thời giải thích bằng chính ngôn ngữ của họ để từng bước thay đổi nhận thức.
Những đóng góp thầm lặng ấy góp phần tạo nên một kết quả đặc biệt: Trong suốt 4 năm triển khai dự án, không có trường hợp tử vong mẹ nào tại 60 xã đặc biệt khó khăn ở 6 tỉnh miền núi.
Thông tin này được công bố tại hội nghị tổng kết dự án do Bộ Y tế phối hợp với MSD for Mothers và Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tổ chức ngày 24-3 tại Hà Nội.

Cô đỡ thôn bản ở Mù Cang Chải, Yên Bái hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ sơ sinh. Ảnh: Dương Ngọc/TTXVN
Dự án có tổng kinh phí 2 triệu USD được thực hiện trong giai đoạn 2021-2025 tại các tỉnh Lai Châu, Bắc Kạn, Sơn La, Gia Lai, Đắk Nông và Kon Tum, nơi có nhiều địa bàn khó khăn, rào cản ngôn ngữ và tập quán sinh hoạt khiến việc tiếp cận dịch vụ y tế còn hạn chế.
Sau 4 năm, các chỉ số chăm sóc sức khỏe bà mẹ cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số được tiếp cận dịch vụ chăm sóc thai sản thiết yếu tăng từ 11% lên 36%. Tỷ lệ sinh tại cơ sở y tế tăng từ 30% lên 57%, trong khi tỷ lệ sinh tại nhà giảm mạnh từ trên 90% xuống dưới 20%.
Một số địa phương đạt kết quả nổi bật như: Bắc Kạn đạt 100% sinh tại cơ sở y tế, Đắk Nông đạt 98,3% chăm sóc sau sinh.
Kết quả này có được nhờ việc triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như: Nâng cao năng lực cho hơn 200 cán bộ y tế và 650 tình nguyện viên, tổ chức 2.300 hoạt động truyền thông..., đồng thời đưa dịch vụ đến gần người dân hơn và phù hợp với đặc thù văn hóa địa phương.

PGS.TS.BSKII Nguyễn Tri Thức, Thứ trưởng Bộ Y tế, trả lời phỏng vấn Phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội. Ảnh: Kiều Thoan Thu
Trả lời phỏng vấn Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội, PGS.TS.BSKII Nguyễn Tri Thức, Thứ trưởng Bộ Y tế, cho biết kết quả dự án cho thấy hiệu quả của việc kết hợp giữa ứng dụng công nghệ số trong quản lý thai sản với cách tiếp cận phù hợp điều kiện thực tế tại vùng dân tộc thiểu số.
Theo Thứ trưởng, việc triển khai tại các địa bàn miền núi, nơi có địa hình phức tạp và dân cư phân tán, đã góp phần cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, đồng thời hỗ trợ giải quyết những khó khăn trong giao tiếp và tiếp nhận thông tin của người dân.
Từ đó, ngành y tế xác định cần tiếp tục phát huy vai trò của y tế cơ sở, tăng cường sự tham gia của mạng lưới thôn bản, đặc biệt là đội ngũ cô đỡ thôn bản, trong chăm sóc thai sản tại cộng đồng.
Trong thời gian tới, Bộ Y tế sẽ tập trung triển khai các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ tại vùng dân tộc thiểu số và khu vực khó khăn, trong khuôn khổ Chương trình mục tiêu quốc gia về Y tế, Dân số và Phát triển giai đoạn 2026-2035.
Thứ trưởng Nguyễn Tri Thức cho biết sẽ duy trì và chuẩn hóa đội ngũ cô đỡ thôn bản để nâng cao nhận thức và giảm nguy cơ trong quá trình mang thai, sinh nở. Cùng với đó, ngành y tế đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, phối hợp với Bộ Công an triển khai sổ sức khỏe bà mẹ - trẻ em, có thể tích hợp trên nền tảng VNeID.
“Các kết quả của dự án cần được phổ biến rộng rãi, làm cơ sở để các địa phương nghiên cứu, áp dụng phù hợp với điều kiện thực tế. Bộ Y tế cam kết tiếp tục đầu tư cho mục tiêu giảm tử vong mẹ trên phạm vi cả nước”, Thứ trưởng nhấn mạnh.

Ông Matt Jackson, Trưởng đại diện Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam. Ảnh: Kiều Thoan Thu
Ở góc độ quốc tế, Trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam, Matt Jackson nhận định, dự án cho thấy khi các can thiệp được thiết kế sát với thực tế địa phương, chúng có thể tạo ra thay đổi rõ rệt ngay cả ở những khu vực khó khăn nhất.
“Những kinh nghiệm từ dự án cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng để các địa phương tham khảo khi xây dựng và triển khai các giải pháp phù hợp với điều kiện của mình,” ông chia sẻ với Phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội.
Ông Matt Jackson cho biết, dù Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, sự chênh lệch giữa các vùng vẫn rõ rệt, đặc biệt tại khu vực miền núi và dân tộc thiểu số, nơi tỷ lệ tử vong mẹ vẫn cao hơn từ 2 đến 3 lần so với mức trung bình toàn quốc.

Bà Rose Lauren Mariano, đại diện MSD for Mothers. Ảnh: Kiều Thoan Thu
Để nâng cao hiệu quả từ mô hình dự án, bà Rose Lauren Mariano, đại diện MSD for Mothers, nhấn mạnh vai trò của hợp tác công - tư trong thúc đẩy các sáng kiến về sức khỏe bà mẹ.
Theo bà, khu vực tư nhân có thể mang đến nguồn lực, kinh nghiệm và các giải pháp đổi mới, trong khi cơ quan nhà nước và các tổ chức quốc tế như UNFPA có lợi thế về hiểu biết thực tiễn và nhu cầu tại địa phương. Sự phối hợp này giúp các can thiệp bám sát thực tiễn, đồng thời tận dụng thế mạnh của từng bên.
Sau 4 năm triển khai, khu vực tư nhân đã đồng hành hiệu quả với các đơn vị trong nước thông qua hỗ trợ kỹ thuật, chia sẻ kinh nghiệm và nâng cao chất lượng dịch vụ, qua đó khẳng định hợp tác công - tư không chỉ bổ sung nguồn lực tài chính mà còn gia tăng giá trị về chuyên môn và phương pháp tiếp cận.
Bà Rose Lauren Mariano cho rằng cần tiếp tục lan tỏa bài học, mở rộng sự tham gia của các bên liên quan và lồng ghép các cách làm hiệu quả vào chương trình nhằm duy trì, mở rộng tác động bền vững đối với sức khỏe bà mẹ.

Các đại biểu tham dự hội thảo tổng kết dự án được tổ chức tại Hà Nội ngày 24-3. Ảnh: Kiều Thoan Thu
Từ câu chuyện của Sùng Thị Cúc đến những con số tại hội nghị, mô hình kết hợp y tế cơ sở với mạng lưới cộng đồng, tôn trọng văn hóa và ứng dụng công nghệ đang dần được khẳng định là hướng đi hiệu quả.
Ở những bản làng xa xôi, nơi từng thiếu vắng dịch vụ y tế, những ca sinh an toàn đã trở thành minh chứng rõ ràng cho hiệu quả của cách làm này.
Kiều Thoan Thu
5 giờ trước
9 giờ trước
10 giờ trước
10 giờ trước
11 giờ trước
13 giờ trước
4 giờ trước
52 phút trước
34 phút trước
27 phút trước
33 phút trước
41 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước