🔍
Chuyên mục: Thời sự

Đổi mới tư duy 'làm' văn hóa để khơi thông sức mạnh mềm quốc gia sau Đại hội XIV

2 giờ trước
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, câu chuyện về văn hóa không còn dừng lại ở bảo tồn hay quản lý, mà đang được đặt trong một tư duy mới: tư duy 'làm' văn hóa, coi văn hóa là một trong những nguồn lực phát triển mũi nhọn của quốc gia.

Theo TS. Phạm Hùng Tiến - Trưởng Bộ môn Kinh doanh quốc tế, trường Đại học Đại Nam, các văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã một lần nữa xác định rằng việc làm sâu sắc hệ giá trị con người Việt Nam và đồng thời khơi thông phát triển công nghiệp văn hóa sẽ tạo ra những động lực phát triển mới. Trong bối cảnh ấy, công nghiệp văn hóa đóng vai trò là phương tiện, là sức mạnh “mềm” để lan tỏa, thương mại hóa và hiện đại hóa những giá trị truyền thống của dân tộc.

Đổi mới tư duy “làm” văn hóa

TS. Phạm Hùng Tiến cho rằng, muốn chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực phát triển, hướng tới xây dựng nền kinh tế sáng tạo với mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 9% GDP vào năm 2045, bước đi đầu tiên là chuyển đổi tư duy quản lý – từ tư duy hành chính thuần túy sang tư duy quản trị hiện đại. Văn hóa cần được nhìn nhận không chỉ là một lĩnh vực cần quản lý, mà là một thị trường sáng tạo đặc thù, nơi các giá trị tinh thần có thể được chuyển hóa thành giá trị kinh tế, xã hội và uy tín quốc gia.

“Điều này đòi hỏi phải nâng tầm vị thế của văn hóa trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, đồng thời tạo ra những đột phá về khung pháp lý”, TS. Phạm Hùng Tiến nhấn mạnh.

TS. Phạm Hùng Tiến. Ảnh: NVCC

Theo ông, Việt Nam cũng cần sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật về nghệ thuật, văn hóa và bản quyền theo thông lệ quốc tế, đồng thời xây dựng bộ chỉ số văn hóa quốc gia để đo lường hiệu quả hoạt động và định hướng chiến lược phát triển dài hạn.

Một trụ cột khác trong tư duy “làm” văn hóa là phát triển công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Hiện nay, mức đóng góp của lĩnh vực này vào GDP của Việt Nam vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng và so với nhiều quốc gia trong khu vực.

Để đạt được các mục tiêu đặt ra cho giai đoạn đến năm 2030 và xa hơn, công nghiệp văn hóa cần duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân trên 10% mỗi năm. Điều đó đòi hỏi phải xác định rõ các lĩnh vực trọng tâm, ưu tiên những ngành có lợi thế và dư địa phát triển lớn như điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, du lịch văn hóa, thiết kế sáng tạo…

Theo TS. Phạm Hùng Tiến, Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi kinh nghiệm quốc tế về chính sách, đầu tư và xây dựng thương hiệu trong các lĩnh vực này, qua đó từng bước hình thành các tập đoàn công nghiệp văn hóa và cụm sáng tạo quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh quốc tế và đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Để huy động hiệu quả các nguồn lực và ứng dụng những công nghệ đột phá, TS. Phạm Hùng Tiến cho rằng vai trò dẫn dắt của Đảng, Nhà nước là không thể thay thế. Việc Bộ Chính trị chủ trương bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa, bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn thể hiện rõ quyết tâm chính trị và tầm nhìn chiến lược đối với lĩnh vực này.

Cùng với đó, cần đa dạng hóa các hình thức hợp tác công – tư, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia sâu hơn vào phát triển công nghiệp văn hóa. Chuyển đổi số cũng cần được đẩy mạnh trên toàn bộ chuỗi giá trị, từ sáng tạo, sản xuất, phân phối đến quảng bá và tiêu thụ các sản phẩm văn hóa.

Đẩy mạnh mô hình “đại sứ văn hóa”

Trong tiến trình chủ động hội nhập quốc tế, công tác quảng bá và truyền thông về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam cần được đặt ở vị trí xứng đáng.

“Trong quá khứ, Việt Nam từng có mô hình “đại sứ văn hóa” nhưng trong giai đoạn tới, cần phát triển mạnh mẽ hơn mạng lưới này, đồng thời mở rộng hợp tác với những cá nhân có tầm ảnh hưởng toàn cầu trong các lĩnh vực chính trị, văn hóa, thể thao và sáng tạo. Đây sẽ là những kênh quan trọng giúp văn hóa Việt Nam tiếp cận gần hơn, nhanh hơn và sâu hơn với công chúng quốc tế”, ông Tiến nói.

Thực tế cho thấy, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đang ngày càng đóng vai trò chủ thể trong việc lan tỏa văn hóa Việt. Bà Tạ Thùy Liên, Trưởng Ban Liên lạc Cộng đồng người Việt Nam tại Singapore cho biết, cộng đồng người Việt tại đây không chỉ gìn giữ bản sắc cho riêng mình, mà còn chủ động đưa văn hóa Việt hòa vào dòng chảy đa văn hóa của xã hội sở tại thông qua các lễ hội, dự án truyền thông, hoạt động giáo dục và giao lưu cộng đồng.

Bà Tạ Thùy Liên, Trưởng Ban Liên lạc Cộng đồng người Việt Nam tại Singapore

Anh Đặng Đình Hùng, Phó Chủ tịch thường trực Hội sinh viên Việt Nam tại Australia chia sẻ, các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam thường xuyên tổ chức các hoạt động quảng bá văn hóa như cuộc thi “Em yêu Tiếng Việt”, Tết Cộng đồng, các chương trình nghệ thuật và ẩm thực truyền thống, hay thành lập các hội đoàn giao lưu văn hóa Việt – Australia. Sắp tới, Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Sydney dự kiến mời đoàn Nhã nhạc Cung đình Huế sang biểu diễn, góp phần đưa nét đẹp văn hóa dân tộc đến gần hơn với bạn bè quốc tế.

Trong kỷ nguyên mới, kiều bào không chỉ là cầu nối kinh tế, mà còn là những “đại sứ văn hóa” rất đặc biệt. Mỗi người Việt hội nhập tốt, sống có trách nhiệm và giữ gìn bản sắc đều góp phần lan tỏa hình ảnh một Việt Nam năng động, nhân văn và đáng tin cậy.

TS.Phạm Hùng Tiến nhấn mạnh, hoạt động quảng bá văn hóa của người Việt ở nước ngoài thường gắn chặt với các hoạt động thương mại; qua đó không chỉ nuôi dưỡng và lan tỏa niềm tự hào dân tộc trong tâm thức mỗi người con xa xứ, mà còn tạo điều kiện để cộng đồng động viên, hỗ trợ lẫn nhau xây dựng và phát triển những mô hình kinh doanh mới, phù hợp với quy định và môi trường pháp lý của nước sở tại.

“Cú bắt tay” văn hóa với các nước bạn

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, những “cú bắt tay” văn hóa với các quốc gia khác không chỉ góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau, mà còn mở ra không gian hợp tác mới cho công nghiệp văn hóa Việt Nam. Đổi mới tư duy về “làm” văn hóa, vì thế, không chỉ là yêu cầu nội tại, mà còn là chìa khóa để Việt Nam khẳng định vị thế, bản sắc và sức mạnh mềm của mình trên trường quốc tế sau Đại hội XIV của Đảng.

Với Pháp, hợp tác song phương đang tập trung vào bảo tồn di sản, trao đổi bảo tàng, điện ảnh và đào tạo chuyên gia văn hóa – di sản, đồng thời thúc đẩy các dự án sáng tạo đương đại. Trong những năm gần đây, Pháp đã triển khai dự án “Sharing and Preserving Vietnamese Heritage” (Chia sẻ và gìn giữ Di sản Việt Nam) với mục tiêu kết nối các tổ chức di sản, bảo tàng giữa hai nước, tăng cường chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm bảo tồn văn hóa. Dự án này đã đem lại lợi ích thiết thực cho hơn 200 chuyên gia đến từ khoảng 20 tổ chức lịch sử – văn hóa của Việt Nam, mở tiền đề cho các hoạt động hợp tác trong tương lai. Bên cạnh đó, cộng đồng Pháp ngữ tại Việt Nam cũng phát triển lớn mạnh, với nhiều lớp học ngoại ngữ và hoạt động văn hóa trải rộng khắp cả nước, góp phần làm sâu sắc giao lưu nhân dân và thắt chặt tình hữu nghị văn hóa.

Với Vương quốc Anh, thông qua Hội đồng Anh và các chương trình như “Connections Through Culture” (Kết nối qua văn hóa), Việt Nam tăng cường kết nối nghệ sĩ, phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo như nghệ thuật thị giác, thiết kế, âm nhạc và phim ảnh.

Trong khi đó, Trong thời gian qua, Đại sứ quán Iran cũng để lại nhiều dấu ấn với một số sự kiện văn hóa như Tuần lễ phim Iran, Triển lãm về nghệ thuật, màu sắc và hoa văn Iran lần thứ hai tại Bảo tàng Hà Nội, Lễ hội Hoa sen Hà Nội, Lễ hội Văn hóa Ẩm thực và Lễ hội Ẩm thực Quốc tế.

Những “cú bắt tay” văn hóa này không chỉ làm giàu đời sống tinh thần, mà còn mở ra không gian mới để văn hóa Việt Nam bước ra thế giới với tư thế chủ động và tự tin sau Đại hội XIV của Đảng.

Diệp Thảo/VOV.VN

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ