🔍
Chuyên mục: Thời sự

Nhận diện, phản bác những luận điệu xuyên tạc về Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930

1 giờ trước
Trong bối cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vừa được tổ chức thành công, các thế lực thù địch gia tăng cường độ và quyết liệt triển khai các chiến dịch truyền thông nhằm xuyên tạc sự kiện Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930.

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. (Tranh: Phan Kế An/Báo Nhân Dân)

Việc phủ nhận giá trị của Hội nghị hợp nhất thực chất là mưu đồ nhằm phủ định tính chính danh và vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng. Do đó, việc luận giải thấu đáo và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái này là nhiệm vụ chính trị trọng yếu để bảo vệ nền tảng tư tưởng và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh.

Nhận diện các luận điệu xuyên tạc về Hội nghị thành lập Đảng

Trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị tập trung vào những luận điệu mang tính “xét lại” hết sức nguy hiểm nhằm đánh vào cội nguồn của Đảng. Chúng không chỉ dừng lại ở những luận điệu xuyên tạc về Hội nghị thành lập Đảng mà đã nâng tầm thành một chiến lược “tấn công học thuật” thâm độc. Chúng lợi dụng danh nghĩa “khách quan”, “tư liệu mới” để bóp méo sự thật lịch sử thông qua các luận điểm then chốt sau:

Thứ nhất, luận điệu về “sự ngoại lai” và phủ nhận tính chủ động của dân tộc. Các thế lực phản động rêu rao về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn là kết quả của một “kịch bản áp đặt” từ Quốc tế Cộng sản. Chúng cố tình bóp méo phong trào cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ chỉ là một “chi nhánh” bị động, thực hiện mệnh lệnh hành chính từ bên ngoài, không xuất phát từ nhu cầu tự thân của dân tộc. Thủ đoạn này nhằm mục đích tách rời Đảng khỏi gốc rễ phong trào yêu nước, hòng phủ nhận tính chính danh của Đảng ngay từ điểm xuất phát.

Thứ hai là luận điệu hạ thấp vai trò của Nguyễn Ái Quốc, xuyên tạc phương pháp hợp nhất các tổ chức cộng sản của Người chỉ là sự “thỏa hiệp quyền lực” mang tính cục bộ giữa các tổ chức cộng sản tiền thân để gieo rắc hoài nghi về tính đoàn kết thống nhất. Chúng xuyên tạc về Hội nghị hợp nhất tại Hương Cảng chỉ là một sự “chắp vá” cơ học giữa 3 tổ chức cộng sản đang tranh giành ảnh hưởng nhằm giải quyết mâu thuẫn cục bộ, không phải sự thống nhất về tư tưởng. Nguy hiểm hơn, chúng tấn công vào vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đưa ra các luận điệu khẳng định Người chỉ là một “liên lạc viên” thực thi ý chí của bên ngoài, thậm chí cáo buộc Người “vượt quyền” để gieo rắc hoài nghi về tính hợp hiến của Đảng trong hệ thống chính trị Việt Nam ngay từ thuở sơ khai.

Thứ ba, luận điệu xuyên tạc bản chất Cương lĩnh chính trị đầu tiên. Các phần tử cơ hội chính trị tập trung công kích Chánh cương, Sách lược vắn tắt là “giáo điều”, "sao chép” máy móc mô hình đấu tranh giai cấp từ bên ngoài, gây ra sự chia rẽ dân tộc, đưa đất nước vào con đường đấu tranh giai cấp cực đoan, trái với truyền thống dân tộc và là nguyên nhân của những đau thương trong lịch sử. Chúng cố tình đánh tráo khái niệm, về sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa tại Hội nghị thành lập Đảng năm 1930 là một “sai lầm lịch sử” khiến đất nước chậm phát triển.

Thứ tư là thủ đoạn “xét lại lịch sử” thông qua việc khai thác các khoảng trống tư liệu. Chúng lợi dụng việc tiếp cận các nguồn lưu trữ chưa đầy đủ hoặc các hồi ký cá nhân để suy diễn, thêu dệt những mâu thuẫn nội bộ tại Hội nghị thành lập Đảng. Chúng tập trung vào những khác biệt về quan điểm giữa các đại biểu tại Hương Cảng để quy kết rằng Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời đã tiềm ẩn mầm mống chia rẽ. Đây là âm mưu thâm độc nhằm làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên vào sự đoàn kết, thống nhất của Đảng.

Phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và minh chứng giá trị Hội nghị thành lập Đảng qua thực tiễn lịch sử

Những luận điệu sai trái, thù địch trên xuất phát từ âm mưu thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị với mục tiêu phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ chính trị ở Việt Nam, phủ định con đường đi lên CNXH.

Từ thực tiễn lịch sử cách mạng sinh động của dân tộc Việt Nam đã khẳng định dứt khoát, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự vận động khách quan của lịch sử, không phải do sự áp đặt từ bên ngoài; con đường cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam là duy nhất đúng đắn. Hội nghị thành lập Đảng không phải là kết quả của mệnh lệnh hành chính, mà là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.

Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp, Tây Ban Nha nổ súng xâm lược Việt Nam. Nhà Nguyễn từng bước đầu hàng thực dân Pháp vô điều kiện. Việt Nam trở thành nước thuộc địa, Nhân dân rơi vào vòng nô lệ. Tuy nhiên, với truyền thống yêu nước của dân tộc, các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp theo nhiều khuynh hướng khác nhau đã liên tiếp nổ ra nhưng tất cả đều bị thất bại. Thất bại của các phong trào đó có chung một nguyên nhân là thiếu đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn và thiếu tổ chức cách mạng tiên phong dẫn đường.

Yêu cầu lịch sử đặt ra là phải có một chính đảng đề ra được đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo, có khả năng và uy tín tập hợp, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, thì mới gánh vác được trọng trách lãnh đạo cách mạng. Với lòng nhiệt huyết muốn cứu nước, cứu dân, với thiên tài trí tuệ, nhãn quan chính trị sắc bén và được kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc, ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Sau nhiều năm bôn ba khắp năm châu, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cách mạng vô sản, từ đó Người đã chuẩn bị các điều kiện cần thiết về lý luận, tổ chức, cán bộ cho việc thành lập một chính đảng đủ sức để lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.

Đầu năm 1930, sau khi chuẩn bị về mọi mặt, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc). Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đáp ứng yêu cầu khách quan của phong trào cách mạng Việt Nam; đáp ứng nhu cầu lịch sử, khắc phục được những sai lầm, thiếu sót của các phong trào yêu nước trước đó.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh phong trào cộng sản quốc tế đang phát triển mạnh mẽ, nhưng đây tuyệt đối không phải là một “kịch bản áp đặt” từ bên ngoài. Thực tế lịch sử cho thấy, tại thời điểm đó, một số chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản vẫn còn nặng về đấu tranh giai cấp, chưa hoàn toàn sát hợp với đặc thù của một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam. Trong bối cảnh đó, chính Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện bản lĩnh độc lập, tự chủ khi chủ động hợp nhất các tổ chức cộng sản theo hướng ưu tiên giải phóng dân tộc và nhấn mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Nếu là một sự “áp đặt” máy móc, Người đã không soạn thảo một Cương lĩnh mang đậm tính dân tộc và sáng tạo được thống qua tại Hội nghị thành lập Đảng.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả tất yếu của quá trình vận động khách quan từ phong trào yêu nước trong nước kết hợp nhuần nhuyễn với lý luận Mác - Lênin, hoàn toàn không phải là một “nhánh” bị động từ bên ngoài. Hội nghị hợp nhất dưới sự chủ trì thiên tài của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã giải quyết triệt để cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước.

Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản nhưng mang trong mình tâm thế của một người con ưu tú của dân tộc, Người đã thực hiện việc định hướng và thống nhất nhận thức sâu sắc để đưa chủ nghĩa Mác - Lênin thích ứng với thực tiễn của một nước thuộc địa nửa phong kiến. Vai trò quyết định của Nguyễn Ái Quốc không chỉ dừng lại ở việc chuẩn bị lý luận mà còn thể hiện ở phương pháp và cách thức hợp nhất đầy sáng tạo.

Phương pháp “hợp nhất từ trong tư tưởng” của Người đã giúp Đảng ta ngay từ khi ra đời đã có một sự đoàn kết sắt đá, đập tan mọi giả thuyết về một sự “thỏa hiệp nhất thời”. Người không dùng mệnh lệnh hành chính khô khan mà bằng uy tín chính trị và nghệ thuật thuyết phục bậc thầy, Người đã khơi dậy tinh thần tự giác của mỗi đồng chí, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Yêu cầu các đại biểu tự phê bình sự chia rẽ và đặt lợi ích tối cao của dân tộc lên trên lợi ích cục bộ.

Việc Người chủ động lựa chọn thời điểm hợp nhất vào dịp Tết Canh Ngọ (đầu năm 1930) - thời điểm thực dân Pháp lơi lỏng canh phòng và lòng dân đang hướng về sự đoàn viên theo truyền thống dân tộc - là một quyết định nhạy bén, kịp thời, cứu vãn nguy cơ tan rã của lực lượng tiên phong, chấm dứt tình trạng phân liệt phong trào trước khi nó bị kẻ thù bóp nghẹt.

Nguyễn Ái Quốc chủ động triệu tập Hội nghị hợp nhất khi chưa có chỉ thị trực tiếp về mặt thời điểm cụ thể từ Quốc tế Cộng sản không phải là hành động “vượt quyền”, mà là biểu hiện của sự nhạy bén chính trị thiên tài. Người hiểu rõ nguy cơ tan rã của các tổ chức cộng sản tiền thân nếu không kịp thời thống nhất.

Thực tế lịch sử đã chứng minh, ngay sau khi Đảng được thành lập, Hội nghị lần thứ 11 của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản năm 1931 đã thông qua Nghị quyết công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một chi bộ độc lập, trực thuộc Quốc tế Cộng sản[1]. Sự công nhận này chính là minh chứng đanh thép nhất cho tính hợp hiến, đúng đắn và uy tín tuyệt đối của Hội nghị thành lập Đảng dưới sự chủ trì của Người. Đây chính là minh chứng cho bản lĩnh chính trị tự chủ, sáng tạo, đập tan mọi xuyên tạc về tính "vượt quyền" hay "thiếu tính hợp hiến" của Hội nghị.

Tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Chữ “vắn tắt” ở đây không hàm chứa sự thiếu hụt về tư duy hay sơ sài về lý luận, mà ngược lại, đó là kết quả của một quá trình khái quát hóa cao độ, tinh lọc những vấn đề cốt lõi nhất của cách mạng Việt Nam. Cách trình bày súc tích này nhằm mục đích làm cho những tư tưởng cách mạng tiên phong trở nên dễ hiểu, dễ thẩm thấu với trình độ nhận thức của đại đa số quần chúng Nhân dân lúc bấy giờ, đáp ứng yêu cầu khẩn thiết phải có một kim chỉ nam hành động ngay lập tức. Sự tinh gọn, sắc sảo này đối lập hoàn toàn với tính “giáo điều” hay “sách vở” mà các phần tử cơ hội cáo buộc. Nó chứng minh một tầm nhìn chiến lược xuyên thế kỷ: lấy thực tiễn làm thước đo và lấy lợi ích dân tộc làm mục tiêu tối thượng.

Cương lĩnh chính trị đầu tiên chính là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc.

Chánh cương vắn tắt của Người đã xác định nhiệm vụ “đánh đổ đế quốc Pháp” là tiên quyết, đồng thời tranh thủ cả tiểu tư sản, trí thức và địa chủ yêu nước. Đây chính là chiến lược “đại đoàn kết dân tộc” - chìa khóa làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và ngọn đuốc soi đường cho thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm vĩ đại trong thế kỷ XX.

Thành tựu 40 năm đổi mới chính là sự hiện thực hóa những tầm nhìn chiến lược từ Hội nghị hợp nhất năm 1930, khẳng định rằng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đứng vững trên mảnh đất thực tiễn để dẫn dắt dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Vị thế, tiềm lực và uy tín quốc tế của Việt Nam hiện nay cùng với khát vọng bước vào “Kỷ nguyên vươn mình” tại Đại hội XIV chính là lời đáp trả mạnh mẽ nhất đối với những kẻ cho rằng nền tảng tư tưởng Đảng đã lỗi thời. Sự ổn định chính trị - xã hội giữa một thế giới đầy biến động chính là bảo chứng cho tính đúng đắn của việc xác lập quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng từ năm 1930.

96 năm đã trôi qua nhưng giá trị và bài học kinh nghiệm từ Hội nghị thành lập Đảng vẫn còn vẹn nguyên. Hội nghị thành lập Đảng năm 1930 không chỉ khai sinh ra một chính đảng, mà còn xác lập một mẫu mực về sự đoàn kết, tinh gọn và tầm nhìn chiến lược cho cách mạng Việt Nam.

Trong giai đoạn hiện nay, việc vận dụng bài học về sự thống nhất tư tưởng và tổ chức vào thực tiễn sắp xếp, tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị là một yêu cầu tất yếu để Đảng thực sự là hạt nhân quy tụ sức mạnh toàn dân. Những thành tựu thực tiễn trong kỷ nguyên mới sẽ là cơ sở khoa học vững chãi nhất để bác bỏ và vô hiệu hóa mọi luận điệu xuyên tạc, khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Ths. Lê Thị Huyền - Ths Hoàng Thị Hiền

Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021.

Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb CTQGST, H, 2025.

Ban Tuyên giáo Trung ương: Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nxb CTQG, H, 2017.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQGST, H, 2011, tập 3.

Tổng Bí thư Tô Lâm: Các bài phát biểu về tinh gọn bộ máy và chuẩn bị Đại hội XIV.

[1] Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

TIN LIÊN QUAN
































Home Icon VỀ TRANG CHỦ