🔍
Chuyên mục: Tình yêu - Hôn nhân

Đóa hoa đẹp nhất

7 giờ trước
00:00
00:00

- Ông ngồi trên chiếc ghế bành to sụ và thi thoảng nhìn ra giàn hoa đậu biếc rất nhiều nụ xanh biếc giăng kín cổng. Hầu như ai cũng trồng hoa giấy hoặc giàn sử quân tử duy chỉ có ông đặc biệt thích loài hoa này và chính tay ông đã ươm, cho leo giàn và chăm sóc từng chút phát triển như bây giờ. Bóng nắng tháng Bảy bắt đầu nhảy nhót trên người ông, nhưng dường như chúng cũng không làm tình làm tội khi chỉ điểm xuyến qua chứ không quá nóng nảy. Chúng không muốn làm phiền đến người đàn ông luống tuổi đang chìm vào khoảng không tư lự. Vừa nhác thấy tôi, ông gọi với:

- Lấy cho ông cái kéo, cắt vài bông đơm lên trang thờ bà.

Tôi dường như đã quá quen thuộc, mỗi khi rảnh rỗi, khi hoa khoe mình đươm sắc rộ, ông sẽ chậm rãi cắt thành từng lọn dài, cả dây leo, cả những bông xanh biếc sau đó bó thật gọn để lên trang thờ bà. Bà mất lâu rồi nhưng thói quen của ông vẫn vậy, đó là cách ông nhớ về bà qua những loài hoa bà từng thích.

Khi tôi sinh ra thì bà đã mất rồi, những điều tôi biết về bà hầu như là qua những câu chuyện kể và tấm di ảnh với nụ cười hiền từ phúc hậu. Ông vẫn hay đùa: “Nhìn bả vậy thôi chứ dữ lắm, lên hình chụp thì giả vờ vậy thôi”

Minh họa: VŨ NHƯ PHONG

Cách ông nói về bà khiến tôi hiểu ông trân trọng, yêu thương và chấp nhận bà. Hằng năm, cứ đến ngày giỗ của bà và ngày 27/7 ông lại dẫn tôi đi thăm mộ bà. Ông đã yếu rồi, không thể đi lại nhiều nữa nhưng ông luôn đặc biệt dành hai ngày này để tới thăm bà. Ông bảo rằng chiến tranh luôn mang lại mất mát đau thương nhưng ông đều cố gắng vượt qua không chỉ vì tình yêu đất nước mà còn vì có bà bên cạnh, là tình yêu lớn đã làm chỗ dựa hậu phương vững chắc cho ông.

Ông kể ông với bà lớn lên cùng nhau, ông thương bà nhưng chưa một lần dám nói ra lòng mình. Tính ông nhát gái, còn bà từ khi còn trẻ đã là một người phụ nữ vô cùng mạnh mẽ. Bà là chị cả trong nhà, mẹ hi sinh trong một trận càn của địch, ba bà đi lính nên mình bà chăm sóc bốn người em. Cũng nhờ hàng xóm cưu mang giúp đỡ nhưng bà cũng gánh trách nhiệm nặng nề ở vai nên bà dường như lớn hơn so với tuổi. Ông còn nhớ lần ông phát hiện bà làm giao liên ông đã ngăn bà:

- Na dừng lại đi, nguy hiểm lắm, mình còn nhỏ quá. Na không sợ mưa đạn, không sợ địch bắt sao?

Lúc đó là lúc hai người vừa qua tuổi mười hai. Ông vì thi thoảng bắt gặp bà đi rừng ban đêm nên đã lần mò theo và phát hiện bà chính là người đã giúp quân ta bao nhiêu lần vượt rừng bỏ trốn. Bà cùng rất nhiều dân làng làm tiếp tế cho bộ đội ta khi ẩn náu tránh địch cũng như vì thông thạo đường rừng mà nhiều lần giúp quân ta cắt đuôi quân địch. Bà khi ấy vóc dáng nhỏ thó nên tháo vát và nhanh nhẹn, hơn nữa bọn địch không thể ngờ được sự dũng cảm của những đứa trẻ. Những lời bà nói lúc đó khiến ông không thể nào quên được.

- Tuổi nhỏ làm việc nhỏ. Mỗi người có cách thể hiện tình yêu quê hương nhưng không có cách thể hiện nào là sợ địch. HÈN!

Lời mắng thẳng của bà làm ông thức tỉnh, ông suy nghĩ mãi và cuối cùng cũng trở thành một “chiến sĩ nhỏ” giúp đỡ bộ đội cùng với bà và nhiều người khác trong làng. Mãi cho đến khi đi lính sau này ông vẫn cảm thấy xấu hổ vì đã để suy nghĩ tầm thường của mình làm bà biết được.

Tuổi thơ của hai người khi ấy có vất vả vì khói lửa chiến tranh, tình trạng thiếu ăn thiếu mặc diễn ra như cơm bữa nhưng họ lại trưởng thành từ gian khó, chưa bao giờ để hiện tại đương thời khuất phục đi niềm tin vào một ngày mai hòa bình. Chính vì những năm tháng chiến tranh nên giá trị của hòa bình mới được trân trọng. Ông kể bà đặc biệt thích hoa đậu biếc, lúc đó là tình cờ hai người lên núi nhặt củi và đã thấy một nhánh hoa này leo núi, vẻ sắc xanh của những nụ hoa khiến bà ấn tượng vì bà không nghĩ lại có loài hoa nào có màu xanh tồn tại.

- Nếu Na thích, tui sẽ kiếm cách để trồng cho Na.

- Ông có phải là chồng tui đâu mà làm này làm kia cho tui.

Ông vẫn hay kể lúc đó ông khờ quá, nhát gái ngượng chín mặt, nếu lúc đó ông tỏ tình có lẽ không phải rất lâu sau này ông mới biết tình cảm của bà. Ba tôi bảo khi bà còn sống bà vẫn hay kể sự lãng mạn của ông, dù rất ít khi ông thể hiện. Ông không phải người ít nói, ông là người dịu dàng và rất chân thành, trái ngược hoàn toàn với hình ảnh mạnh mẽ của bà, có điều ông nhát nên ông thường ít dám thể hiện tình cảm. Ngày ông đi lính, hai người vừa tròn mười tám, bà đã đợi mãi nhưng không nhận được lời tỏ tình của ông nhưng bà nhất quyết không nói ra tình cảm mình. Bà nghĩ bà sẽ đợi, ông sẽ về, sẽ nhanh thôi nhưng không ngờ ông đi biền biệt suốt ba năm và bà nghe tin ông mất trong một lần đồng đội ông về báo tin cho người thân nơi quê cũ.

- Lúc ấy bà không tin ông mất, bà quyết định lên đường tìm ông. Hầu như chiến trường nào bà cũng kinh qua, bếp đỏ hậu phương nào bà cũng tham gia nấu chỉ để nghe ngóng về tin tức một người đã hi sinh.

Ông lúc đó tham gia chiến dịch nguy hiểm và bị địch truy đuổi, ông bị thương rất nặng và rơi xuống khe núi, may mà được những người dân địa phương cứu giúp, chữa trị vết thương và đưa đi ẩn náu. Khi vết thương lành cũng phải mất thời gian rất lâu ông mới liên lạc lại được với đồng đội vì tính bảo mật của chiến dịch. Ông đã ở lại ngôi làng nhỏ ấy một thời gian, sống như một người dân bình thường để đánh lạc hướng địch, mặt khác cũng rất lo vì không đưa tin được về với đồng đội, với người quê nhà, sợ họ lắng lo. Cũng tại ngôi làng đó ông bắt đầu trồng rất nhiều hoa đậu biếc leo giàn như một cách nhớ người thương mà chưa một lần người ấy biết.

Sau đó gần cả năm trời, ông mới về lại quê thì được tin bà đã bôn ba nơi chiến trường để đi tìm ông trong gần cả năm khoảng thời gian ông mất tích. Những người đồng đội cũ thi thoảng tạt ngang thăm ông vẫn hay kể về bà, một người dân công hỏa tuyến gan dạ vô cùng nơi chiến trường đầy khói đạn chiến tranh. Vì vết thương năm xưa ông phải dưỡng thương một khoảng rất dài, nghe tin bà không ngừng đi vào chốn hiểm nguy tìm mình đến bặt vô tin tức thì bồn chồn bất lực. Căn nhà nhỏ của bà, mỗi ngày ông đều cố gắng gieo giàn, ươm hoa đậu biếc và nó nở xanh cả một khoảng trời.

Ngày bà về cũng là vết thương ông chớm lành chuẩn bị lên đường chiến đấu theo tiếng gọi của quê hương. Anh lính trẻ vác balo trên vai chuẩn bị chào tạm biệt giàn hoa đậu biếc như một cách nhớ người thương thì bắt gặp người phụ nữ có làn da đen nhẻm vì khói lửa và vết sẹo chiến trường trở về.

- Ông không muốn đánh mất cơ hội nào nữa nên đã tỏ tình với bà ngay lúc vừa thấy bà.

- Vậy bà có đồng ý không ông?

- Cha bố mi, không đồng ý thì sao có bố mi rồi có mi - Rồi ông trầm ngâm sau khi cười cả một tràng dài - Bà nói : “Sao tới giờ mới nói? Đợi về rồi cưới”

Bà là một nữ dân công hỏa tuyến vô cùng mạnh mẽ. Những năm tháng đợi ông bà cũng tham gia vào đoàn dân công quê nhà. Đến khi lên đường tìm ông, bốn anh chị em chuẩn bị cho bà những chiếc bồ nhỏ đựng tầm 10kg gạo và ruột tượng đựng chừng 4-5kg gạo để bà ăn dọc đường. Tình yêu ông gắn với tình yêu quê hương đất nước, bà muốn đi tìm ông nhưng cũng giữ trách nhiệm của một nữ dân công, tải lương cho bộ đội ta. Ngày đó, khi chiến trận đã đến hồi ác liệt, nhận được chỉ thị cung cấp người và của cho chiến trường, bà và người dân nơi đây không ngừng tăng gia sản xuất.

Mỗi gia đình khi ấy người ít thì chục kí, người có để dành hoặc mới thu hoạch thì có khi cả tạ, vét hết cho đến khi không có gì ăn chỉ để phục vụ kháng chiến. Sau đó lại gia công thành gạo và đi tải lương.

Đến khi có đủ điều kiện thì ai cũng muốn được lên đường phục vụ kháng chiến, ai đủ điều kiện thì đi, còn không thì ở lại làm công tác hậu cần, tăng gia sản xuất và đảm việc cho người ra đi. Ông kể:

- Hồi đó mấy người lớn trong làng dặn một hai phải vận chuyển gạo được đến tay bộ đội, có đói thì xin những đồng bào ven đường đồ ăn, tuyệt đối không được đụng vào một hạt gạo để đến tay bộ đội.

- Thế hồi đó má không sợ máy bay địch đảo hả? - Ba tôi hỏi ông.

- Sợ chứ, mình đi ở dưới ở trên bắn rát, quần đảo liên tục. Nhưng nghe riết rồi quen, cứ làm gì mặc kệ, miễn sao vẫn giữ vững đội hình, cẩn thận đừng để lộ lớp ngụy trang là được.

Ông lúc đó khi nghe ba tôi nhắc về bà vẫn thường chêm vào sự tự hào của ông dành cho bà. Khi ông đi qua rất nhiều chiến trường đôi khi nghe được những tin tức về bà và những người biết bà càng ngưỡng mộ sự dũng cảm của bà. Bà không chỉ tham gia tải lương tải đạn ở nhiều chiến dịch mà còn gan dạ xung phong làm thanh niên mở đường. Cung cấp sức người để đào hào, đào đất mở đường, lại còn đi do thám, tìm hiểu đường đi để mở đường cho bộ đội.

Đến khi bà về lại với quê nhà phục vụ chiến đấu cho địa phương thì lại tích cực hoạt động trong hội phụ nữ, không chỉ triển khai giúp đỡ các chị em phụ nữ có nhiều kinh nghiệm sản xuất và chiến đấu nhờ những gì học được trong những nơi bà đã đi qua mà còn thường xuyên vận động lương thực để phục vụ chiến dịch. Có những giai đoạn khi vụ mùa còn chưa thu hoạch mà lương thực lại thiếu, bà đã tuyên truyền công tác vận động người dân địa phương dốc hết tất cả những gì còn sót lại để cung ứng cho bộ đội. Nhờ tình yêu đất nước và khát vọng hòa bình, dân ta khi đó thậm chí chấp nhận ăn khoai sắn chỉ để có lương thực cho bộ đội chiến đấu.

Ngày đất nước hòa bình ông bà mới gặp lại và làm đám cưới, ba tôi cũng sinh muộn vì ông bà quyết chờ đất nước thống nhất mới làm đám cưới. Sau khi về hưu ông mới bắt đầu có thời gian rảnh rỗi để trồng thêm những giàn hoa đậu biếc loài hoa ưa thích của bà và quãng đời còn lại của bà là những hạnh phúc bên ông tận hưởng sự bình yên.

Với bà, đó là loài hoa bà thích nhất. Còn với ông, đóa hoa đẹp nhất thời chiến ông từng gặp và mãi cho đến bây giờ vẫn tồn tại trong lòng ông, chỉ có bà.

Truyện ngắn của Biện Bạch Ngọc















Home Icon VỀ TRANG CHỦ