Định vị tương lai của kiểm toán môi trường

Trong giai đoạn 2015-2025, KTNN đã tổ chức thực hiện trên 55 cuộc kiểm toán có liên quan đến các vấn đề môi trường, trong đó có 25 cuộc kiểm toán hoạt động chuyên sâu về môi trường. Ảnh: TL
Phát triển để đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2030 có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố nền tảng phát triển toàn diện của KTNN; tạo điều kiện để KTNN mở rộng phạm vi, đổi mới phương pháp và nâng cao giá trị kiểm toán đối với các lĩnh vực mới, phức tạp, có tác động lớn đến quản trị quốc gia. Trong Chiến lược, KTMT được đề cập như một nội dung cần tăng cường trong nhóm nâng cao chất lượng kiểm toán, cùng với kiểm toán hoạt động, kiểm toán chuyên đề, kiểm toán công nghệ thông tin và các lĩnh vực kiểm toán mới.
Những định hướng có ý nghĩa mở đường này, cùng với các quy định pháp luật ngày càng hoàn thiện, đã tạo điều kiện để KTMT hình thành và phát triển. Trong giai đoạn 2015-2025, KTNN đã tổ chức thực hiện trên 55 cuộc kiểm toán có liên quan đến các vấn đề môi trường, trong đó có 25 cuộc kiểm toán hoạt động chuyên sâu về môi trường. Các cuộc kiểm toán đã bao quát nhiều lĩnh vực trọng yếu như khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, nhà máy nhiệt điện, chất thải rắn, nước thải, chất thải y tế, phế liệu nhập khẩu, tài nguyên nước và các quỹ, nguồn lực cho bảo vệ môi trường (BVMT).
Qua kiểm toán, KTNN đã phát hiện nhiều hạn chế trong quản lý tài nguyên, nhất là đối với đất đai, khoáng sản, rừng và tài nguyên nước; chỉ ra những bất cập trong công tác quy hoạch, cấp phép, khai thác, giám sát và việc gắn trách nhiệm BVMT với khai thác, sử dụng tài nguyên.
Đối với quản lý môi trường, hoạt động kiểm toán đã phát hiện nhiều hạn chế phổ biến như phân công, phân cấp chưa rõ; việc thẩm định, phê duyệt hồ sơ môi trường ở một số trường hợp chưa chặt chẽ; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm chưa nghiêm; hệ thống quan trắc, giám sát môi trường trực tuyến chưa đồng bộ. Đồng thời, cảnh báo một số nguy cơ ô nhiễm môi trường và rủi ro đối với sức khỏe cộng đồng.
Đối với quản lý chính sách, chương trình và nguồn lực cho môi trường, kết quả kiểm toán đã chỉ ra nhiều điểm chồng chéo, thiếu thống nhất, bất cập hoặc khó thực hiện trong cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện; đồng thời phát hiện bất cập trong quản lý, sử dụng các chương trình, dự án, quỹ và nguồn lực công dành cho bảo vệ môi trường. Những phát hiện và kiến nghị này có ý nghĩa thiết thực đối với công tác quản lý, sử dụng nguồn lực công cho BVMT, ứng phó với biến đổi khí hậu và PTBV.
Tuy nhiên, trước những yêu cầu ngày càng cao của nền quản trị quốc gia hiện đại, KTMT phải phát triển hơn nữa để đáp ứng đòi hỏi từ thực tiễn. Để xây dựng một lộ trình phát triển có tính hệ thống cho KTMT, cơ sở pháp lý, phương pháp luận, nguồn nhân lực và dữ liệu phục vụ KTMT cần được tiếp tục hoàn thiện.
Trụ cột chuyên môn và điều kiện phát triển
Nếu môi trường là một trong ba trụ cột của PTBV cùng với kinh tế và xã hội thì KTMT là năng lực chuyên môn giúp KTNN đánh giá mức độ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và BVMT. Vì vậy, Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 cần định vị KTMT là một trụ cột chuyên môn chiến lược của KTNN.
Định vị này có ý nghĩa quan trọng ở 3 phương diện. Ở phương diện thể chế, KTMT góp phần tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước trong thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường, khí hậu và tài nguyên. Ở phương diện quản trị, KTMT giúp nhận diện những bất cập trong phân công trách nhiệm, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện, giám sát và đánh giá kết quả. Ở phương diện phát triển quốc gia, KTMT góp phần cảnh báo sớm những rủi ro đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng, rủi ro lãng phí tài nguyên, rủi ro không đạt mục tiêu xanh, chuyển gánh nặng môi trường sang người dân, doanh nghiệp và các thế hệ tương lai.
Về mục tiêu, đến năm 2035, KTNN cần hình thành năng lực KTMT ổn định, có phương pháp thống nhất, có đội ngũ kiểm toán viên nòng cốt, có cơ sở dữ liệu phục vụ lựa chọn chủ đề và thu thập bằng chứng kiểm toán, có khả năng thực hiện thường xuyên các cuộc kiểm toán về môi trường, khí hậu, tài nguyên và PTBV. Tầm nhìn đến năm 2045, KTNN Việt Nam cần phấn đấu trở thành cơ quan kiểm toán có năng lực mạnh trong khu vực về KTMT, kiểm toán biến đổi khí hậu và kiểm toán PTBV.
Trong giai đoạn phát triển mới, KTMT cần tiếp tục hoàn thiện các điều kiện nền tảng để phát triển:
Hoàn thiện cơ sở pháp lý và phương pháp luận về KTMT, bảo đảm KTMT được thực hiện có hệ thống, có chuẩn mực, có tiêu chí đánh giá rõ ràng, có khả năng kiểm toán cả chính sách, chương trình, dự án và kết quả thực thi.
Xây dựng danh mục chủ đề KTMT trung hạn và dài hạn gắn với các ưu tiên quốc gia: Biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, quản lý tài nguyên biển, chất lượng không khí, chất thải, năng lượng, đất đai, khoáng sản, rừng, đa dạng sinh học, kinh tế tuần hoàn và PTBV vùng, quốc gia. Việc lựa chọn chủ đề phải dựa trên rủi ro, tính trọng yếu, tác động đến người dân và mức độ quan tâm của Quốc hội.
Phát triển năng lực KTMT dựa trên dữ liệu. KTMT trong tương lai không thể chỉ dựa vào hồ sơ giấy. Chúng ta cần sử dụng dữ liệu quan trắc, ảnh vệ tinh, dữ liệu địa không gian, hệ thống thông tin môi trường, cơ sở dữ liệu ngân sách, dữ liệu đầu tư công và công cụ phân tích số để hình thành bằng chứng kiểm toán tin cậy, khách quan, có khả năng cảnh báo sớm. Dữ liệu phải trở thành nền tảng để nhận diện rủi ro, thiết kế kiểm toán, kiểm chứng bằng chứng và nâng cao sức thuyết phục của kiến nghị.
Xây dựng đội ngũ kiểm toán viên môi trường chuyên nghiệp, am hiểu cả kiểm toán, tài chính công, pháp luật môi trường, khoa học dữ liệu, quản trị rủi ro và chính sách phát triển bền vững. KTMT là lĩnh vực liên ngành; nếu không đầu tư con người tương xứng, chúng ta sẽ không thể đi đến cùng bản chất của vấn đề.
Từng bước kiện toàn tổ chức, củng cố đơn vị chuyên trách hiện có, hình thành mạng lưới kiểm toán viên môi trường trong toàn Ngành, tăng cường hợp tác quốc tế và chia sẻ tri thức để nâng cao năng lực kiểm toán.
Với định vị đó, KTMT sẽ không chỉ góp phần phát hiện sai sót trong quản lý môi trường mà còn giúp KTNN cảnh báo sớm rủi ro phát triển không bền vững, bảo vệ lợi ích công, nâng cao trách nhiệm giải trình và đóng góp thiết thực vào mục tiêu tăng trưởng xanh, bao trùm và bền vững của đất nước./.
NGUYỄN THỊ NGUYỆT ANH Kiểm toán nhà nước chuyên ngành II
1 giờ trước
3 ngày trước
10 ngày trước
1 giờ trước
15 phút trước
5 phút trước
42 phút trước
2 phút trước
3 phút trước
3 phút trước
4 phút trước
4 phút trước
5 phút trước
7 phút trước
8 phút trước
9 phút trước
9 phút trước