🔍
Chuyên mục: Tài chính

Điều hành chính sách tiền tệ: Giữ vững nền móng ổn định để hỗ trợ tăng trưởng

1 giờ trước
Từ đầu năm đến nay, bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp và tác động mạnh đến Việt Nam, đặc biệt là điều hành chính sách tiền tệ. Sự kiên định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc giữ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, không gây áp lực lên hệ thống ngân hàng; kết hợp hài hòa giữa tài khóa và tiền tệ, đã cho thấy cách tiếp cận vấn đề một cách phù hợp. Trong buổi làm việc với các ngân hàng thương mại ngày 13/8, Thủ tướng Lê Minh Hưng ghi nhận thành công của hoạt động điều hành chính sách tiền tệ; đồng thời cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với ngành ngân hàng trong những tháng cuối năm.

Giữ vững nền móng ổn định để hỗ trợ tăng trưởng. Ảnh: Ngọc Thắng

CỦNG CỐ NỀN MÓNG ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ

Điểm đáng chú ý trong kết luận của Thủ tướng là cách tiếp cận mang tính tổng thể đối với điều hành chính sách tiền tệ. Chính phủ, Thủ tướng xác định hệ thống tiền tệ, ngân hàng và các tổ chức tín dụng là “huyết mạch” của nền kinh tế, giữ vai trò trọng yếu trong ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững. Vì vậy, ưu tiên đầu tiên của Ngân hàng Nhà nước trong quản lý, điều hành là phải hướng tới củng cố ổn định vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, tăng cường khả năng chống chịu, bảo đảm hệ thống ngân hàng an toàn, lành mạnh, minh bạch, hiệu quả, vận hành theo nguyên tắc thị trường; tập trung khơi thông và phân bổ hiệu quả nguồn vốn cho nền kinh tế.

Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu và thường xuyên cập nhật tình hình để điều hành hài hòa các mục tiêu trong ngắn hạn giữa yêu cầu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng; cập nhật các giải pháp, kịch bản điều hành đối với các công cụ chính sách tiền tệ: lãi suất, tỷ giá, , thanh khoản và tín dụng, đồng thời xác định các ngưỡng cảnh báo để phản ứng chính sách kịp thời, đúng thời điểm và đúng liều lượng.

Bối cảnh kinh tế vĩ mô cho thấy, thời gian qua thị trường tiền tệ, ngoại hối bị tác động lớn bởi các yếu tố bất ổn địa chính trị, chính sách thuế quan của Mỹ, chính sách tiền tệ khó lường của các ngân hàng trung ương lớn; đặt ra thách thức lớn, yêu cầu cao cho công tác điều hành chính sách tiền tệ trong việc cân đối hài hòa các nhiệm vụ, mục tiêu đan xen: vừa tập trung ưu tiên kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, vừa giảm thiểu tác động tiêu cực từ các cú sốc đến ổn định kinh tế vĩ mô.

Với vai trò là cơ quan quản lý trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, trong 7 tháng đầu năm 2026, NHNN đã điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách vĩ mô khác, đã góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Ngân hàng Nhà nước  đã điều tiết tiền tệ hợp lý để kiểm soát lạm phát, cung ứng vốn để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường ngoại tệ. Trong bối cảnh áp lực thanh khoản gia tăng do tăng trưởng tín dụng đạt mức cao nhất trong 15 năm qua, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai đồng bộ, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để bảo đảm thanh khoản hệ thống tổ chức tín dụng và ổn định thị trường.

Theo TS. Nguyễn Thị Mùi - Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp, dư địa chính sách thu hẹp, yêu cầu tăng trưởng cao gắn với ổn định vĩ mô đặt ra nhiều thách thức cho điều hành kinh tế.  Với nền kinh tế có độ mở lớn và còn chịu tác động mạnh từ biến động bên ngoài như Việt Nam, mỗi quyết định về lãi suất, tỷ giá hay tín dụng đều có thể có tác động hai chiều.

Vì vậy, giá trị cốt lõi của điều hành chính sách tiền tệ nằm ở khả năng lựa chọn đúng thời điểm, đúng công cụ và đúng mức độ. Về chính sách điều hành vĩ mô của Chính phủ những tháng qua cho thấy có sự phối hợp đồng bộ, linh hoạt giữa các công cụ chính sách, đặc biệt chính sách tài khoá phối hợp chặt chẽ, hợp lý và có hiệu quả với chính sách tiền tệ trong việc điều hành cung tiền, tín dụng, lãi suất, bội chi ngân sách nhà nước và nợ công, đã và đang hỗ trợ tích cực cho việc ổn định vĩ mô và tăng trưởng kinh tế.

“Chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức có thể tạo sức ép lên lạm phát, tỷ giá và giá tài sản; ngược lại, điềuhành quá chặt có thể làm suy giảm khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp”.

TS. Nguyễn Thị Mùi Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia

TÍN DỤNG TĂNG NHƯNG DÒNG VỐN PHẢI ĐI ĐÚNG HƯỚNG

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu điều hành tăng trưởng tín dụng bám sát mục tiêu năm 2026 nhưng không coi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng là một “trần cứng” trong mọi thời điểm. Vốn phải đến đúng lĩnh vực, đúng thời điểm, đúng đối tượng, đúng mục đích và với chi phí hợp lý; tập trung vào sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo, nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, hạ tầng thiết yếu và các dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia.

Đây cũng là hướng đi đã được Ngân hàng Nhà nước triển khai trong 7 tháng đầu năm. Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả; hướng vốn vào sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng; đồng thời kiểm soát chặt tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Các ngân hàng được yêu cầu đa dạng hóa sản phẩm tín dụng, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quy trình cấp tín dụng và tăng cường kết nối ngân hàng – doanh nghiệp.

Những con số này cho thấy vấn đề không chỉ là tín dụng tăng bao nhiêu, mà quan trọng hơn là tín dụng đang được phân bổ vào đâu.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, định hướng này càng có ý nghĩa. Đây là nhóm doanh nghiệp thường gặp nhiều trở ngại trong tiếp cận vốn, đặc biệt về tài sản bảo đảm, hồ sơ tài chính, khả năng chứng minh dòng tiền và chi phí vốn. Vì vậy, việc tăng khả năng tiếp cận tín dụng phải đi cùng đổi mới phương thức đánh giá khách hàng, khai thác dữ liệu và phát triển các sản phẩm tín dụng phù hợp.

KHÔNG GÂY SỨC ÉP LÊN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VỀ TÍN DỤNG, LÃI SUẤT

Đáng chú ý là chỉ đạo của Thủ tướng không đặt vấn đề tăng trưởng tín dụng, giảm lãi suất tách rời khỏi các điều kiện kinh tế vĩ mô. Thủ tướng nêu rõ trong điều hành kinh tế vĩ mô vừa qua, Chính phủ chủ yếu sử dụng chính sách tài khóa (giảm, giãn thuế, phí); đồng thời quyết liệt cắt giảm thủ tục, thời gian thực hiện, chi phí tuân thủ cho nền kinh tế, người dân và doanh nghiệp, trong đó có các ngân hàng, không gây sức ép lên Ngân hàng Nhà nước và hệ thống ngân hàng về tín dụng, lãi suất. Song song với đó, ngành Ngân hàng cũng cần chia sẻ trách nhiệm với người dân, doanh nghiệp bằng các biện pháp cụ thể để ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất cho vay và đưa tín dụng vào đúng lĩnh vực, đồng thời kiểm soát chặt rủi ro.

Trong nhiều năm qua, hệ thống ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chủ yếu của nền kinh tế. Dòng tín dụng liên tục mở rộng, góp phần quan trọng duy trì tăng trưởng sản xuất, đầu tư và tiêu dùng. Tuy nhiên, quy mô tín dụng ngày càng lớn cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với ổn định tài chính trong trung và dài hạn.

Theo TS Nguyễn Thị Mùi, để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, rất cần sự “đồng tâm, hiệp lực”, sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ, đúng thời điểm từ các chính sách vĩ mô. Thực tế cho thấy, áp lực đối với hệ thống ngân hàng không chỉ đến từ quy mô tín dụng mà còn xuất phát từ chính cấu trúc nguồn vốn.

Khoảng cách giữa kỳ hạn huy động và kỳ hạn cho vay khiến áp lực "lấy ngắn nuôi dài" ngày càng rõ nét, đồng thời làm thu hẹp dư địa thanh khoản của toàn hệ thống. Mới đây, tại Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam đã mở ra kỳ vọng tái cấu trúc hệ dẫn vốn theo hướng cân bằng hơn, để thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, bảo hiểm và các quỹ đầu tư thực sự “chia lửa” với ngân hàng.

Sự phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, đầu tư công, cải cách thể chế và phát triển thị trường vốn sẽ tạo ra không gian lớn hơn để nền kinh tế huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Bên cạnh đó, để huy động nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân, trước hết Nhà nước phải tạo được niềm tin và môi trường kinh doanh an toàn, phải bảo vệ được quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền thụ hưởng lợi ích chính đáng của họ, đa dạng hóa nguồn lực tài chính doanh nghiệp và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn một cách thuận lợi. Một nền kinh tế phát triển bền vững không thể dựa mãi vào ngân hàng. Chúng ta cần phải cải thiện thị trường tài chính một cách toàn diện.

Cùng quan điểm, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cho rằng, mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam đòi hỏi lượng vốn rất lớn, trong khi tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy. Ông cho biết, trong các giai đoạn tăng trưởng trên 10%, tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP của nhiều quốc gia thường dao động quanh mức 39-43%.

Vị chuyên gia này đánh giá, vốn tư nhân phải đóng góp gần hai phần ba nhu cầu đầu tư. Vì vậy, bài toán không chỉ là huy động thêm vốn, mà còn phải mở rộng và nâng cao hiệu quả các kênh dẫn vốn. Tín dụng ngân hàng, thị trường vốn, đầu tư công hay vốn đầu tư nước ngoài đều có những giới hạn riêng.

Nhìn tổng thể, cuộc làm việc của Thủ tướng Chính phủ với hệ thống Ngân hàng gửi đến một thông điệp: điều hành tiền tệ trong năm 2026 không phải là lựa chọn giữa ổn định và tăng trưởng, mà là tìm ra phương thức để tăng trưởng trên nền tảng ổn định. Như Thủ tướng đã nhấn mạnh: “muốn tăng trưởng nhanh và bền vững trong nhiều năm thì càng phải gia cố nền móng ổn định kinh tế vĩ mô và củng cố lòng tin của người dân, doanh nghiệp vào năng lực điều hành”.

Ở góc độ đó, nhiệm vụ của ngành ngân hàng trong thời gian tới có thể được khái quát bằng một chuỗi yêu cầu: ổn định để tạo niềm tin; linh hoạt để thích ứng; tín dụng đúng hướng để tạo động lực tăng trưởng; giảm chi phí để hỗ trợ doanh nghiệp; chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả; hoàn thiện thể chế để mở rộng không gian phát triển; và kiểm soát rủi ro để bảo vệ thành quả tăng trưởng. Đó cũng là cách tiếp cận phù hợp với tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng: ngân hàng không chỉ cần lớn hơn về quy mô mà phải an toàn hơn, hiệu quả hơn và hiện đại hơn; tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với kiểm soát rủi ro, chuyển đổi số phải đi đôi với an toàn dữ liệu và hội nhập phải đi đôi với năng lực quản trị theo chuẩn mực quốc tế.

TIN LIÊN QUAN































Home Icon VỀ TRANG CHỦ