Điểm tựa ghìm cương lạm phát năm 2026?
Áp lực không đột biến nhưng tích tụ rõ nét
Nhìn tổng thể, lạm phát năm 2026 được dự báo cao hơn năm 2025 nhưng khó xảy ra kịch bản bùng phát mạnh. Tuy vậy, các áp lực mang tính tích tụ lại hiện diện khá rõ, chủ yếu đến từ những yếu tố nội tại của nền kinh tế trong bối cảnh bước vào năm “tăng tốc”.
Theo TS Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế – Tài chính (Học viện Tài chính), một trong những nguồn gây áp lực quan trọng là tác động trễ của tăng trưởng tín dụng. “Dù tín dụng năm 2025 không tăng nóng so với giai đoạn trước, song dòng vốn được bơm ra nền kinh tế thường cần một độ trễ nhất định để chuyển hóa thành cầu tiêu dùng và đầu tư thực. Chính độ trễ này khiến áp lực lạm phát thường dồn sang năm kế tiếp” – TS Nguyễn Đức Độ phân tích.

Người tiêu dùng mua sắm tại siêu thị Winmart Dương Nội.
Khi một phần tín dụng chảy vào thị trường tài sản như bất động sản, chứng khoán, chi phí vốn và chi phí thuê mặt bằng gia tăng sẽ lan tỏa sang giá hàng hóa, dịch vụ. Áp lực này không bùng phát tức thì nhưng diễn ra âm ỉ, bền bỉ và khó nhận diện trong ngắn hạn.
Bên cạnh đó, mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 10% đặt ra yêu cầu mở rộng tổng cầu ở mức rất cao. Trong ngắn hạn, khả năng đáp ứng của tổng cung còn hạn chế, nhất là ở các lĩnh vực phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu đầu vào như năng lượng, vật liệu xây dựng, thiết bị sản xuất. Khi đầu tư công được đẩy mạnh song song với tiêu dùng nội địa phục hồi mạnh, nguy cơ hình thành lạm phát cầu kéo là điều khó tránh khỏi.
Theo các chuyên gia, tỷ giá cũng là biến số đáng lưu ý trong bức tranh lạm phát năm 2026. Việc thúc đẩy tăng trưởng bằng đầu tư và tiêu dùng nội địa sẽ kéo theo nhu cầu nhập khẩu lớn, trong khi triển vọng xuất khẩu vẫn phụ thuộc nhiều vào sức cầu thế giới. Nếu cán cân thương mại chịu sức ép, khả năng VND chịu áp lực mất giá là không thể loại trừ, từ đó làm gia tăng chi phí nhập khẩu và tác động lan tỏa lên mặt bằng giá trong nước.
Ngoài ra, năm 2026 cũng có thể là thời điểm tiếp tục điều chỉnh giá các mặt hàng, dịch vụ do Nhà nước quản lý theo lộ trình thị trường, như điện, y tế, giáo dục. Dù đây là bước đi cần thiết về dài hạn, song nếu không được tính toán kỹ về thời điểm và mức độ, các điều chỉnh này vẫn có thể tạo thêm áp lực ngắn hạn lên CPI.
Ở chiều ngược lại, bức tranh lạm phát năm 2026 cũng có những yếu tố “hãm phanh”. Kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm khiến giá hàng hóa cơ bản như dầu mỏ, kim loại, lương thực khó tăng mạnh. TS Nguyễn Đức Độ cho rằng, mặt bằng giá thế giới ổn định hơn sẽ giúp giảm áp lực lạm phát nhập khẩu, qua đó hỗ trợ kiểm soát CPI trong nước. Đồng thời, lãi suất trong nước được dự báo duy trì xu hướng nhích lên nhẹ do tín dụng tăng nhanh hơn huy động, góp phần kiềm chế cầu tín dụng quá mức.
Tổng hợp các yếu tố, nhiều dự báo cho rằng CPI năm 2026 có thể tăng bình quân khoảng 3,5%, vẫn nằm trong ngưỡng kiểm soát. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, thách thức lớn nhất không chỉ nằm ở con số lạm phát thực tế, mà ở việc kiểm soát kỳ vọng lạm phát. Khi kỳ vọng bị “neo” ở mức cao, hành vi điều chỉnh giá và tiền lương của doanh nghiệp, người lao động có thể tự khuếch đại áp lực lạm phát.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng để hóa giải áp lực giá cả
Trong bối cảnh đó, chính sách tiền tệ được xem là điểm tựa đầu tiên để ghìm cương lạm phát năm 2026. Theo TS Lê Quốc Phương – nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương), khi dư địa nới lỏng tiền tệ không còn nhiều, việc tiếp tục mở rộng tín dụng mạnh mẽ để đạt tăng trưởng cao trong ngắn hạn tiềm ẩn rủi ro lớn. Do đó, điều hành tiền tệ năm 2026 cần ưu tiên ổn định vĩ mô, kiểm soát tăng trưởng cung tiền và tín dụng ở mức hợp lý. Việc duy trì các công cụ quản lý tín dụng, trong đó có cơ chế hạn mức tăng trưởng tín dụng, vẫn đóng vai trò quan trọng nhằm định hướng dòng vốn vào sản xuất – kinh doanh, hạn chế chảy vào các lĩnh vực đầu cơ, rủi ro cao.
Song song với tiền tệ, chính sách tài khóa là điểm tựa thứ hai. Với tỷ lệ nợ công/GDP khoảng 34%, Việt Nam vẫn còn dư địa nhất định để sử dụng tài khóa hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, dư địa này cần được sử dụng một cách có chọn lọc và kỷ luật.
Thách thức lớn nhất nằm ở chất lượng và hiệu quả giải ngân đầu tư công. Nếu đầu tư công được triển khai đúng tiến độ, tập trung vào hạ tầng then chốt, logistics, năng lượng và chuyển đổi số, năng lực cung của nền kinh tế sẽ được cải thiện, qua đó giảm áp lực lạm phát trong trung và dài hạn. Ngược lại, giải ngân chậm hoặc dàn trải không chỉ làm suy giảm hiệu quả kích thích tăng trưởng, mà còn tạo áp lực cầu danh nghĩa, đẩy giá cả tăng.
Về dài hạn, các chuyên gia đều cho rằng điểm tựa bền vững nhất để ghìm cương lạm phát không nằm ở các biện pháp hành chính hay điều hành ngắn hạn, mà ở chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Nếu tăng trưởng cao chủ yếu dựa vào nới lỏng tiền tệ và tài khóa, nền kinh tế sẽ đối mặt với rủi ro lạm phát cao, bong bóng tài sản và bất ổn vĩ mô. “Bài học của những giai đoạn tăng trưởng nóng trước đây cho thấy, ‘bơm tiền’ có thể mang lại kết quả ngắn hạn, nhưng cái giá phải trả về dài hạn là rất lớn” - TS Lê Quốc Phương nhấn mạnh.
Ngược lại, khi tăng trưởng được dẫn dắt bởi năng suất lao động, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, áp lực lạm phát sẽ giảm đáng kể. Phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; nâng cao chất lượng dòng vốn FDI; thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân trong nước; cải cách thể chế để giảm chi phí cho DN… chính là những yếu tố giúp mở rộng tổng cung một cách thực chất.
Phương Nga
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
37 phút trước
5 giờ trước
57 phút trước
29 phút trước
1 phút trước
16 phút trước
29 phút trước
38 phút trước
1 giờ trước