🔍
Chuyên mục: Tài chính

'Điểm mù' phía sau lợi nhuận ngành ngân hàng

1 giờ trước
Khi thu nhập ghi nhận tăng nhưng dòng tiền chưa thực sự thu về, vấn đề không chỉ là ngân hàng kiếm được bao nhiêu mà còn là chất lượng của khoản lợi nhuận đó.

Mùa công bố kết quả kinh doanh quý II/2026 đang cho thấy bức tranh tích cực của ngành ngân hàng khi lợi nhuận nhiều nhà băng tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng hai chữ số.

Theo Công ty chứng khoán Rồng Việt (VDSC), tổng lợi nhuận trước thuế quý II của 11 ngân hàng lớn được theo dõi đạt gần 91.300 tỷ đồng, tăng 30% so với cùng kỳ.

Thực tế, lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu được giới đầu tư quan tâm khi đánh giá sức khỏe ngân hàng. Tuy nhiên, lợi nhuận ghi nhận trên báo cáo tài chính không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với dòng tiền thực tế thu về.

Nghiên cứu mới đây của FiinRatings chỉ ra một chỉ tiêu ít được chú ý nhưng có thể giúp đánh giá sâu hơn chất lượng lợi nhuận: số ngày lãi và phí phải thu.

Phân tích 15 trường hợp ngân hàng Việt Nam mất khả năng thanh toán hoặc tiệm cận tình trạng này, FiinRatings cho thấy trước khi khủng hoảng xảy ra, nhiều chỉ tiêu tài chính đã xuất hiện biến động bất thường.

Trong đó, số ngày lãi và phí phải thu liên tục cao hơn đáng kể so với trung vị ngành là một dấu hiệu cảnh báo sớm. Điểm đáng chú ý là khoảng cách giữa lợi nhuận đã ghi nhận và dòng tiền thực tế thu về.

Khi lợi nhuận đi trước dòng tiền

Lãi dự thu xuất hiện khi ngân hàng ghi nhận thu nhập lãi theo cơ sở dồn tích trong khi dòng tiền chưa thực sự thu về. Vì vậy, bản thân lãi dự thu không phải dấu hiệu kế toán bất thường. Điều cần quan tâm là quy mô, tốc độ tăng và thời gian khoản phải thu duy trì ở mức cao.

FiinRatings sử dụng chỉ tiêu “số ngày lãi và phí phải thu”, được tính bằng giá trị bình quân lãi và phí phải thu trong hai năm liền kề chia cho thu nhập lãi và thu nhập dịch vụ bình quân một ngày. Theo nhóm phân tích, chỉ tiêu này giúp phản ánh khoảng cách giữa doanh thu đã ghi nhận và dòng tiền thực tế thu được từ hoạt động tín dụng.

Trong các trường hợp nghiên cứu, số ngày lãi và phí phải thu tại nhiều ngân hàng cao hơn đáng kể trung vị ngành trong nhiều năm trước khi mất khả năng thanh toán. Đây có thể là dấu hiệu lãi dự thu tích tụ và chất lượng tài sản suy giảm.

Nhiều ngân hàng từng ghi nhận dấu hiệu lãi dự thu tích tụ và chất lượng tài sản suy giảm. Ảnh: FiinRatings

Tại Ngân hàng A, số ngày lãi và phí phải thu tăng từ 34 lên 280 ngày giai đoạn 2011-2014, trong khi trung vị ngành chỉ khoảng 44-97 ngày. Lãi và phí phải thu cũng tăng từ khoảng 1.000 tỷ đồng lên 5.600 tỷ đồng.

Theo FiinRatings, diễn biến này gắn với việc ngân hàng duy trì tỷ trọng cho vay bất động sản cao trong giai đoạn thị trường đóng băng 2011-2015. Khi khoản vay gặp khó, thu nhập vẫn được ghi nhận theo cơ sở dồn tích nhưng dòng tiền thực thu không tăng tương ứng. Hai năm sau khi chỉ tiêu tăng cao và vượt trung vị ngành, ngân hàng mất khả năng thanh toán.

Tại Ngân hàng N, số ngày lãi và phí phải thu tăng từ 57 lên 440 ngày giai đoạn 2010-2013, trong khi trung vị ngành chỉ 41-88 ngày. FiinRatings cho rằng diễn biến này phản ánh chất lượng tài sản suy giảm khi ngân hàng phát sinh nhiều khoản tín dụng và đầu tư liên quan đến nhóm cổ đông lớn.

Trong khi đó, tại Ngân hàng O, chỉ tiêu duy trì 440-610 ngày giai đoạn 2017-2021, cao gấp 6,3-11,5 lần trung vị ngành. Ngân hàng liên tục ghi nhận lãi trên nhiều khoản vay đã được cơ cấu nhiều lần nhưng chưa được phân loại đúng nợ xấu và trích lập dự phòng đầy đủ.

Các trường hợp trên không có nghĩa lãi dự thu tăng sẽ dẫn tới khủng hoảng. Tuy nhiên, chúng cho thấy chỉ nhìn vào lợi nhuận là chưa đủ để đánh giá chất lượng tăng trưởng và sức khỏe của một ngân hàng.

“Điểm mù” nằm giữa lợi nhuận và khả năng thu hồi

Câu chuyện về lãi dự thu trở nên đáng chú ý hơn khi đặt cạnh các chỉ báo khác trên bảng cân đối.

Trong đánh giá của FiinRatings, số ngày lãi và phí phải thu là một trong sáu dấu hiệu định lượng. Các dấu hiệu còn lại gồm sự bất cân xứng giữa tăng trưởng tổng tài sản, tín dụng và tiền gửi; tỷ lệ tài sản thanh khoản cao trên tổng tài sản thấp và suy giảm; nợ xấu và nợ nhóm 2 tăng nhanh hơn dư nợ; đòn bẩy thuần cao và liên tục tăng; cùng tiền sử tái cơ cấu hoặc can thiệp của cơ quan quản lý.

Tại Ngân hàng O, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) vẫn ở khoảng 9-10%, lợi nhuận dương và vốn chủ sở hữu tăng trong giai đoạn 2017-2019. Tuy nhiên, đòn bẩy thuần tăng từ 28,89 lần lên 38,15 lần trong giai đoạn 2017-2020, cao hơn nhiều mức trung vị ngành khoảng 13-14 lần. Cùng lúc, số ngày lãi và phí phải thu duy trì ở mức rất cao.

Theo FiinRatings, sự kết hợp này cho thấy tài sản mở rộng nhanh trên nền vốn mỏng trong khi thu nhập ghi nhận chưa chuyển hóa tương ứng thành dòng tiền. Các dấu hiệu này xuất hiện từ 24-36 tháng trước khi ngân hàng mất khả năng thanh toán.

Điều đó cho thấy quy mô lãi dự thu chưa phải vấn đề nếu khoản phải thu được thu hồi nhanh. Rủi ro đáng chú ý hơn khi khoản phải thu liên tục tăng, thời gian thu hồi kéo dài và đồng thời xuất hiện các dấu hiệu suy yếu về chất lượng tài sản, thanh khoản hoặc vốn. Khi đó, vấn đề không còn nằm ở quy mô lợi nhuận mà là chất lượng của lợi nhuận.

Ngoài ra, nợ nhóm 2 cũng cho thấy rủi ro tín dụng thường hình thành theo quá trình. Theo nghiên cứu, nhiều khoản vay có thể tích lũy ở nhóm 2 trước khi chuyển thành nợ xấu. Vì vậy, chỉ nhìn vào nợ xấu hiện hữu có thể chưa phản ánh đầy đủ rủi ro đang hình thành.

Lãi dự thu cũng tương tự. Khi khoản vay vẫn được ghi nhận theo cơ sở dồn tích, thu nhập có thể tiếp tục được phản ánh trong kết quả kinh doanh trong khi khả năng thu hồi tiền cần được theo dõi qua các chỉ báo khác.

Lợi nhuận ghi nhận trên báo cáo tài chính không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với dòng tiền thực tế thu về. Ảnh: HA

Điểm đáng chú ý trong nghiên cứu của FiinRatings không nằm ở một chỉ tiêu riêng lẻ, mà ở việc kết hợp nhiều dấu hiệu để nhận diện rủi ro sớm.

Phân tích 15 trường hợp ngân hàng tại Việt Nam từng mất khả năng thanh toán và kiểm thử trên 12 ngân hàng giai đoạn 2020-2025, FiinRatings xây dựng bộ nhận diện gồm 11 dấu hiệu định lượng và định tính.

Kết quả cho thấy ngân hàng có xếp hạng tín nhiệm cao thường xuất hiện ít dấu hiệu hơn, trong khi tần suất tăng dần ở nhóm xếp hạng thấp.

Trong các chỉ tiêu định lượng, số ngày lãi và phí phải thu cao hơn đáng kể so với trung vị ngành xuất hiện ở 12/15 trường hợp, cho thấy đây là tín hiệu cần theo dõi.

Tuy nhiên, tổ chức đánh giá này cũng lưu ý một hay vài dấu hiệu riêng lẻ không đủ để kết luận ngân hàng có nguy cơ mất khả năng thanh toán. Các chỉ tiêu cần được xem xét đồng thời với tình hình tài chính, yếu tố định tính và bối cảnh hoạt động của từng ngân hàng.

Nam Hải















Home Icon VỀ TRANG CHỦ