Di sản làng nghề - 'mỏ vàng' cho phát triển công nghiệp văn hóa Hà Nội (Kỳ 1): Đánh thức nguồn lực phát triển từ những 'di sản sống'

Từ nhận thức về lợi thế đặc biệt của nguồn tài nguyên này, Hà Nội đang từng bước chuyển từ tư duy bảo tồn sang phát huy giá trị di sản, xây dựng các cơ chế, chính sách để từng bước đánh thức "mỏ vàng" làng nghề để trở thành động lực phát triển công nghiệp văn hóa.

Di sản làng nghề đang là một trong những lợi thế nổi bật của Hà Nội trong phát triển công nghiệp văn hóa. Theo "Đề án tổng thể phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050", đến hết năm 2023, Hà Nội có khoảng 1.350 làng có nghề và làng nghề, trong đó 327 làng nghề, làng nghề truyền thống được công nhận, hội tụ 47/52 nghề truyền thống của cả nước. Quy mô này cho thấy Hà Nội đang nắm giữ một hệ sinh thái nghề thủ công đồ sộ.
Không chỉ là nơi tập trung số lượng làng nghề lớn nhất cả nước, Hà Nội còn quy tụ gần như đầy đủ các loại hình nghề truyền thống tiêu biểu như gốm sứ, lụa, sơn mài, mây tre đan, khảm trai, chạm khắc gỗ, thêu ren, dát vàng quỳ, giấy dó, tò he... Mỗi làng nghề là một kho tàng tri thức bản địa, một hệ thống kỹ thuật, mỹ thuật và ký ức văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ.




Bất chấp sự biến đổi của nhịp sống phố thị, làng nghề quạt Chàng Sơn (xã Tây Phương, Hà Nội) đang mạnh dạn ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo để thích ứng với thị trường hiện đại. Ảnh: TTXVN
Điều tạo nên lợi thế khác biệt của Hà Nội không chỉ nằm ở quy mô, mà còn ở chiều sâu văn hóa của các làng nghề. Đằng sau mỗi sản phẩm thủ công không đơn thuần là kỹ năng chế tác, mà còn là những câu chuyện lịch sử, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, không gian văn hóa và tri thức dân gian được lưu truyền qua hàng trăm năm.
Theo Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu tại Lễ đón nhận danh hiệu làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng là thành viên của Mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo thế giới diễn ra vào ngày 8/5/2026: Thủ đô Hà Nội - Thành phố vì hòa bình, Thành phố sáng tạo từ lâu đã được biết đến là nơi hội tụ và lan tỏa những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Trong dòng chảy ấy, các làng nghề truyền thống chính là những "di sản sống", kết tinh trí tuệ, tài hoa, bản sắc văn hóa và sức sáng tạo bền bỉ của nhiều thế hệ người dân Thăng Long - Hà Nội.




Phiên chợ nón làng Chuông (Thanh Oai, Hà Nội) chỉ diễn ra khoảng 3 tiếng vào các ngày 4, 10, 14, 20, 24 và 30 âm lịch, góp phần duy trì một làng nghề truyền thống hơn 300 năm tuổi. Ảnh: TTXVN
Mỗi làng nghề không chỉ tạo ra những sản phẩm thủ công tinh xảo, mang đậm dấu ấn văn hóa Việt Nam mà còn lưu giữ ký ức lịch sử, tri thức dân gian, kỹ năng nghề truyền thống và tinh thần lao động cần cù, sáng tạo của người Việt. Chính các làng nghề đã góp phần làm nên chiều sâu văn hóa và sức sống đặc biệt của Thủ đô.
Giá trị của làng nghề vì thế vượt ra ngoài phạm vi sản xuất hàng hóa để trở thành một nguồn lực văn hóa đặc biệt, có khả năng nuôi dưỡng các ngành thiết kế, sáng tạo, du lịch và dịch vụ văn hóa.

Tiềm năng này đã và đang được phản ánh bằng những con số cụ thể. Theo số liệu thống kê, doanh thu của 327 làng nghề được công nhận (tính hết năm 2023) đã đạt trên 24.000 tỷ đồng/năm; khoảng 800.000 lao động đang làm việc trong các làng nghề. Nhiều địa phương có tới 70 - 80% thu nhập của người dân đến từ nghề thủ công, đồng thời thu hút trên 70% lao động phi nông nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và hạn chế dòng dịch chuyển lao động vào đô thị. Những con số này cho thấy làng nghề không chỉ là tài sản văn hóa mà còn là một nền tảng kinh tế quan trọng của Thủ đô.
Giá trị của các làng nghề càng được nhân lên khi trở thành điểm giao thoa giữa văn hóa và du lịch. Những cái tên như Bát Tràng, Vạn Phúc, Hạ Thái, Phú Vinh, Trạch Xá, Kiêu Kỵ, Chuyên Mỹ hay Xuân La từ lâu không chỉ được biết đến bởi những sản phẩm đặc trưng mà còn trở thành điểm đến trải nghiệm, nơi du khách có thể quan sát quy trình chế tác, gặp gỡ nghệ nhân và tiếp cận trực tiếp với không gian văn hóa làng nghề. Đây cũng chính là lợi thế mà không nhiều ngành công nghiệp có được, đó là sản phẩm, con người và không gian văn hóa cùng tồn tại trong một chỉnh thể, tạo nên giá trị trải nghiệm đặc sắc.
Ở góc độ hội nhập quốc tế, vị thế của làng nghề Hà Nội cũng đang được khẳng định rõ nét. Sau khi Bát Tràng và Vạn Phúc gia nhập Mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo thế giới năm 2024, đến năm 2026, Chuyên Mỹ và Sơn Đồng tiếp tục được ghi danh, đưa Hà Nội sở hữu 4 làng nghề nằm trong mạng lưới này, đồng thời giúp Việt Nam trở thành quốc gia có số thành viên nhiều thứ hai thế giới, chỉ sau Iran. Đây không chỉ là sự ghi nhận đối với giá trị nghề thủ công truyền thống, mà còn cho thấy các làng nghề của Hà Nội đang từng bước được nhìn nhận như một nguồn lực của kinh tế sáng tạo trong bối cảnh toàn cầu.


Các sản phẩm tinh xảo của các nghệ nhân làng nghề sơn mài Hạ Thái (Hà Nội). Ảnh: Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội
Đáng chú ý, lợi thế của Hà Nội không dừng ở nguồn tài nguyên di sản, mà còn nằm ở hệ sinh thái phát triển làng nghề tương đối hoàn chỉnh. Thành phố sở hữu đội ngũ nghệ nhân và thợ giỏi đông đảo nhất cả nước, nhiều sản phẩm đã xây dựng được thương hiệu tại các thị trường khó tính như EU, Hoa Kỳ hay Nhật Bản. Cùng với đó là mạng lưới doanh nghiệp tham gia toàn bộ chuỗi giá trị, từ cung ứng nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến thương mại, xuất khẩu. Khi kết hợp với vị thế của Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hóa, giáo dục và sáng tạo của cả nước, những yếu tố này tạo nên nền tảng quan trọng để các làng nghề không chỉ gìn giữ di sản mà còn có khả năng phát triển thành ngành công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh.
Nói cách khác, điều Hà Nội đang sở hữu không đơn thuần là hàng nghìn làng nghề, mà là một "mỏ vàng" của tài nguyên văn hóa. Vấn đề đặt ra hiện nay không còn là nhận diện tiềm năng, mà là làm thế nào để chuyển hóa kho tàng di sản này thành các sản phẩm thiết kế, trải nghiệm văn hóa và giá trị kinh tế có hàm lượng sáng tạo cao, phù hợp với yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa trong giai đoạn mới.

Sở hữu nguồn tài nguyên làng nghề đồ sộ bậc nhất cả nước nhưng điều đó chưa đồng nghĩa với việc Hà Nội đã chuyển hóa được lợi thế thành sức mạnh của công nghiệp văn hóa. Thực tế, nhiều hạn chế tồn tại nhiều năm qua cho thấy khoảng cách không nhỏ giữa giá trị di sản và giá trị kinh tế, giữa tiềm năng sáng tạo và năng lực đưa sản phẩm ra thị trường.
Nhìn từ chuỗi giá trị của một ngành công nghiệp văn hóa, những điểm nghẽn của làng nghề Hà Nội không nằm ở việc thiếu tài nguyên di sản, mà nằm ở khả năng khai thác chúng. Phần lớn các cơ sở sản xuất vẫn hoạt động theo quy mô nhỏ lẻ, dựa chủ yếu vào kinh nghiệm của từng hộ gia đình, trong khi các khâu tạo nên giá trị gia tăng cao như nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống nhận diện hay tổ chức phân phối còn yếu. Chính vì vậy, dù nhiều sản phẩm có chất lượng tốt, mang bản sắc riêng, khả năng cạnh tranh trên thị trường vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.


Các nghệ nhân của làng nghề thêu Quất Động (Hà Nội) giới thiệu kỹ thuật cho các bạn trẻ. Ảnh: Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội
Một trong những hạn chế được chỉ ra khá rõ là thiếu tư duy đổi mới sáng tạo trong phát triển sản phẩm. Nhiều làng nghề vẫn loay hoay với những mẫu mã quen thuộc, chậm thích ứng với sự thay đổi của nhu cầu tiêu dùng trong nước và quốc tế. Thiếu ý tưởng thiết kế mới, thiếu sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao, trong khi bao bì, nhãn mác, hệ thống nhận diện thương hiệu và truy xuất nguồn gốc chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường hiện đại khiến không ít sản phẩm thủ công dù tinh xảo vẫn khó tạo được sức cạnh tranh. Danh tiếng của nhiều sản phẩm làng nghề vì thế chưa được chuyển hóa thành giá trị thương mại tương xứng.
Một nghịch lý khác là trong khi các làng nghề được xem là nơi lưu giữ tinh hoa nghề thủ công, thì chính những giá trị truyền thống này lại đang đứng trước nguy cơ mai một.
Theo số liệu trong "Đề án tổng thể phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050", hiện trên địa bàn Thủ đô có khoảng 97 làng nghề, làng nghề truyền thống đã bị mai một hoặc hoạt động kém hiệu quả; trong đó 37 làng nghề đã mai một và 60 làng nghề có nguy cơ mai một. Nhiều nghề thuộc các lĩnh vực gỗ, gốm sứ, mây tre đan, dệt, thêu,… đang đứng trước sức ép suy giảm do thiếu lao động kế cận, thị trường thu hẹp và hiệu quả sản xuất thấp.

Điều đáng lo ngại hơn là ở không ít nơi, mục tiêu sản xuất ngắn hạn đã lấn át yêu cầu gìn giữ giá trị nghề. Một bộ phận cơ sở chạy theo lợi nhuận trước mắt, ít quan tâm nâng cao giá trị truyền thống của sản phẩm; thậm chí tình trạng hàng kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái còn làm ảnh hưởng đến uy tín chung của làng nghề.
Nguồn nhân lực cũng đang trở thành một điểm nghẽn lớn. Mặc dù Hà Nội sở hữu đội ngũ nghệ nhân đông đảo, lực lượng lao động trực tiếp tại các làng nghề lại thiếu hụt thợ giỏi, thợ kỹ thuật có tay nghề cao. Phần lớn lao động vẫn làm việc theo phương thức thủ công, chưa qua đào tạo bài bản nên gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận công nghệ mới, đặc biệt là chuyển đổi số. Chất lượng đào tạo nghề chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn khi hơn 90% doanh nghiệp cho rằng các khóa đào tạo hiện nay chưa phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động. Điều này khiến nhiều làng nghề gặp khó trong quá trình đổi mới công nghệ và nâng cao năng suất.

Các thợ chế tác tại làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) đảm nhiệm công việc đòi hỏi tay nghề cao, kỹ thuật tinh xảo và sự chính xác ở từng công đoạn. Ảnh: Phan Phương – TTXVN
Không chỉ vậy, quá trình phát triển của nhiều làng nghề vẫn thiếu sự liên kết với các ngành công nghiệp văn hóa khác. Dù sở hữu không gian văn hóa, lịch sử và nghệ nhân giàu giá trị trải nghiệm, nhiều làng nghề chưa gắn kết hiệu quả với du lịch nông thôn, với thiết kế sáng tạo hay các hoạt động văn hóa đương đại.
Mặt khác, phát triển theo chuỗi giá trị còn ít cả về số lượng lẫn chất lượng; ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số còn hạn chế; hạ tầng sản xuất ở nhiều nơi đã lạc hậu, trong khi ô nhiễm môi trường làng nghề có xu hướng gia tăng. Những điểm nghẽn này khiến giá trị của di sản làng nghề chưa được lan tỏa sang các lĩnh vực khác của nền kinh tế sáng tạo.
Rõ ràng, điều Hà Nội đang thiếu không phải là nguồn tài nguyên làng nghề, mà là một phương thức phát triển mới để kết nối di sản với thiết kế, công nghệ, thị trường và du lịch. Khi các giá trị văn hóa vẫn chủ yếu dừng lại ở khâu sản xuất thủ công truyền thống, "mỏ vàng" di sản làng nghề sẽ khó có thể phát huy hết giá trị. Đây cũng là lý do thành phố đang chuyển mạnh sang tư duy phát triển công nghiệp văn hóa, trong đó thiết kế sáng tạo được xác định là một trong những chìa khóa quan trọng để làm mới di sản và mở rộng không gian phát triển cho các làng nghề.

Chuyển hóa di sản thành nguồn lực phát triển đang trở thành định hướng xuyên suốt trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa của Hà Nội. Với các làng nghề truyền thống, mục tiêu không chỉ dừng ở bảo tồn những giá trị vốn có mà hướng tới khơi dậy sức sáng tạo, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm và xây dựng những không gian văn hóa có khả năng tham gia sâu hơn vào thị trường trong nước cũng như quốc tế.
Một trong những định hướng lớn đáng chú ý là việc Hà Nội đưa phát triển làng nghề trở thành một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa. Điều này được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22/2/2022 của Thành ủy Hà Nội về "Phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045". Lần đầu tiên, thủ công mỹ nghệ được xác định là một trong 13 ngành công nghiệp văn hóa trọng tâm của Thủ đô, khẳng định sự chuyển dịch từ tư duy bảo tồn đơn thuần sang phát huy giá trị di sản để tạo ra các sản phẩm văn hóa, thúc đẩy sáng tạo, phát triển du lịch và gia tăng giá trị kinh tế.




Người dân đến tham quan, trải nghiệm tại Festival làng nghề quốc tế 2025 ở tại Trung tâm Di sản Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội). Ảnh: TTXVN
Nghị quyết xác định: "Tập trung đầu tư phát triển một số lĩnh vực giàu tiềm năng, lợi thế của Thủ đô như: Du lịch văn hóa; Nghệ thuật biểu diễn; Thủ công mỹ nghệ; Thiết kế; Quảng cáo; Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; Điện ảnh; Thời trang; Ẩm thực; Phần mềm và các trò chơi giải trí; Truyền hình và Phát thanh; Xuất bản,... phù hợp với thực tiễn Thủ đô và từng giai đoạn cụ thể".
Ở đây, trong 13 ngành công nghiệp văn hóa trọng tâm của Hà Nội, thủ công mỹ nghệ được xác định là một lĩnh vực có lợi thế nổi trội. Điều này cho thấy làng nghề không còn được nhìn nhận đơn thuần là nơi sản xuất hàng thủ công, mà là một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa, nơi hội tụ đồng thời các yếu tố di sản, thiết kế, sáng tạo, du lịch và thương mại.

Từ định hướng này, Nghị quyết số 09-NQ/TU của Thành ủy Hà Nội cũng mở ra một tư duy phát triển mới đối với làng nghề. Thay vì chỉ hỗ trợ sản xuất, thành phố hướng tới xây dựng cơ chế để khơi dậy sức sáng tạo từ chính nguồn lực văn hóa.
Nghị quyết đặt ra yêu cầu: "Xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù của Thủ đô để phát huy sự sáng tạo dựa trên các nguồn lực công nghiệp văn hóa cho phát triển bền vững như: Chuyển đổi di sản công nghiệp, nhà, biệt thự cũ, di sản đô thị, di sản ký ức thành di sản văn hóa mới; phát triển nghề và sản phẩm nghề thủ công truyền thống... Có cơ chế, chính sách khuyến khích, xúc tiến đầu tư quảng bá các loại hình công nghiệp văn hóa. Chú trọng cơ chế đảm bảo phát huy hiệu lực, hiệu quả việc thực thi và khai thác quyền sở hữu trí tuệ đúng pháp luật".
Song song với đó, bài toán thị trường cũng được đặt ra như một nhiệm vụ trọng tâm. Nghị quyết nhấn mạnh việc "Chú trọng khu vực có tiềm năng, lợi thế như ở khu vực đô thị, làng nghề truyền thống, thông qua các chương trình đào tạo, hoặc liên kết với chuyên gia quốc tế để nâng cao năng lực sáng tạo, hướng đến thị trường quốc tế", đồng thời yêu cầu "Đổi mới tư duy, đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất và sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ văn hóa có chất lượng cao tham gia vào thị trường văn hóa trong nước và quốc tế"; "Nâng cấp kết cấu hạ tầng về công nghiệp văn hóa và các mô hình tổ chức, quản lý của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân, thợ giỏi nhằm phối hợp đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững".
Có thể thấy, trọng tâm của chính sách không chỉ là giữ gìn nghề truyền thống mà còn nâng cao năng lực sáng tạo, thiết kế và đổi mới để đưa sản phẩm làng nghề tham gia sâu hơn vào thị trường văn hóa.



Làng nghề làm hương Quảng Phú Cầu (Hà Nội) là điểm đến yêu thích với nhiều du khách. Ảnh: TTXVN
Tinh thần này tiếp tục được cụ thể hóa trong "Đề án tổng thể phát triển làng nghề giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050". Đề án xác định mục tiêu bảo tồn và phát triển làng nghề gắn với phát triển các sản phẩm thủ công có thế mạnh, kết nối với du lịch, văn hóa và lễ hội nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng giá trị sản phẩm, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân và gìn giữ bản sắc văn hóa Thủ đô.
Đặc biệt, tầm nhìn đến năm 2050 cho thấy một bức tranh phát triển hoàn toàn khác so với cách tiếp cận truyền thống. Theo đó, làng nghề không chỉ tiếp tục đóng góp vào kinh tế nông thôn mà còn trở thành động lực của ngành công nghiệp du lịch, dịch vụ và công nghiệp văn hóa, là những điểm kết nối giao lưu văn hóa có sức cạnh tranh quốc tế.
Các không gian làng nghề được định hướng phát triển xanh, sạch, đẹp; các giá trị vật thể và phi vật thể được khôi phục để trở thành điểm đến du lịch đặc sắc; đồng thời hình thành mạng lưới làng nghề gắn với các trung tâm đổi mới sáng tạo hiện đại. Đề án cũng đặt mục tiêu phát triển sản phẩm theo hướng tích hợp "đa giá trị", gắn với bảo hộ thương hiệu và sở hữu trí tuệ ở nước ngoài, đồng thời xây dựng đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi có trình độ tiệm cận với các quốc gia phát triển trong khu vực.


Các nghệ nhân làng nghề mây tre đan Phú Vinh (Hà Nội) miệt mài giữ nghề truyền thống. Ảnh: Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, hàng loạt giải pháp mới đã được đặt ra, trong đó đáng chú ý là việc xây dựng các trung tâm thiết kế sáng tạo, trưng bày và bán sản phẩm, hỗ trợ hình thành các không gian trình diễn nghề, phát triển hệ thống xúc tiến thương mại, kết nối làng nghề với các phố nghề trong khu phố cổ để tạo thành các tuyến "phố nghề - làng nghề". Cùng với đó là phát triển các sản phẩm du lịch trải nghiệm gắn với câu chuyện hình thành của từng làng nghề; chuẩn hóa sản phẩm OCOP theo hướng nâng cao chất lượng, cải tiến thiết kế, bao bì và nhận diện thương hiệu; đẩy mạnh bảo tồn di tích, lễ hội truyền thống để làm giàu thêm nội dung các tour du lịch làng nghề…
Đáng chú ý, chuyển đổi số cũng được xác định là một trụ cột trong giai đoạn phát triển mới. Đề án đặt ra yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu số về làng nghề, hình thành cổng dữ liệu mở phục vụ quản lý, bảo tồn và phát triển, đồng thời nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong các hoạt động bảo tồn và phát triển làng nghề. Điều đó cho thấy, thay vì chỉ gìn giữ những giá trị truyền thống, Hà Nội đang hướng tới việc đưa các làng nghề bước vào hệ sinh thái sáng tạo mới, nơi di sản được kết nối với thiết kế, công nghệ, du lịch và thị trường.
Từ những định hướng đã được xác lập, có thể thấy Hà Nội không chỉ đặt mục tiêu bảo tồn các giá trị truyền thống của làng nghề mà đang hướng tới một bước đi xa hơn, đó là đưa di sản trở thành nguồn lực cho sáng tạo và phát triển.
Khi thiết kế sáng tạo, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và kết nối du lịch văn hóa được đặt ở vị trí trung tâm, di sản làng nghề không chỉ được gìn giữ mà còn có thể tham gia sâu vào chuỗi giá trị của các ngành công nghiệp văn hóa. Đó cũng là điều kiện để lợi thế di sản được chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh, để "mỏ vàng" di sản làng nghề thực sự trở thành động lực phát triển mới của Thủ đô.
Thực hiện: Công Bắc
Ảnh: TTXVN
Báo: Thể thao và Văn hóa
13 ngày trước
24 ngày trước
24 ngày trước
25 ngày trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
17 phút trước
41 phút trước
Vừa xong
6 phút trước
13 phút trước
26 phút trước
36 phút trước
53 phút trước