🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

Để Việt Nam không chỉ là điểm dừng chân của những ngôi sao thế giới

13 giờ trước
Mong một ngày khán giả từ khắp khu vực đến Việt Nam để thưởng thức nghệ sĩ Việt, tham dự lễ hội âm nhạc mang thương hiệu Việt, rồi đem theo những câu chuyện đẹp về đất nước chúng ta.

Một đêm diễn có thể chỉ kéo dài vài giờ, nhưng âm vang của nó có thể lan xa. Từ mùa hè năm 2023, khi BlackPink làm sôi động sân vận động Mỹ Đình, đến hai đêm BigBang tại Hà Nội ngày 24 và 25/10 vừa qua, Việt Nam đang dần trở thành điểm đến của những chuyến lưu diễn quốc tế. Những biển người, những tiếng hát đồng thanh mang lại niềm vui. Nhưng điều đáng suy nghĩ hơn là: Chúng ta sẽ làm gì với cơ hội ấy?

Hai đêm BlackPink tại Hà Nội năm 2023 bán 67.443 vé, thu hơn 330 tỷ đồng từ phòng vé, theo Touring Data. Trong hai ngày diễn ra sự kiện, Sở Du lịch Hà Nội ước tính tổng thu từ du khách trên địa bàn đạt khoảng 630 tỷ đồng. Đó là tổng thu du lịch cùng thời điểm, không phải toàn bộ doanh thu trực tiếp do concert tạo ra. Dù vậy, sức lan tỏa tới lưu trú, vận tải, ẩm thực và mua sắm là điều dễ nhận thấy. Rồi Westlife, Maroon 5, 2NE1, G-Dragon tiếp tục tìm đến khán giả Việt.

Sân vận động Mỹ Đình rực rỡ trong đêm biểu diễn của BigBang. Ảnh: TTXVN

Với BigBang, câu chuyện không chỉ nằm ở khoảng 90.000 lượt khán giả trong hai đêm tại Mỹ Đình, theo ban tổ chức. Cuộc hội ngộ G-Dragon, Taeyang và Daesung trong chuyến lưu diễn kỷ niệm 20 năm ra mắt nhóm còn đánh thức ký ức thanh xuân của nhiều thế hệ. Âm nhạc không đơn thuần là một sản phẩm tiêu dùng. Nó nuôi dưỡng cộng đồng, cảm xúc và nhu cầu trải nghiệm. Công nghiệp văn hóa có sức mạnh đặc biệt ở chỗ đó: Chuyển giá trị tinh thần thành sức hút xã hội, rồi từ sức hút ấy tạo ra giá trị kinh tế.

Tuy nhiên, cần phân biệt việc trở thành điểm dừng chân hấp dẫn của những tour diễn quốc tế với việc xây dựng một nền công nghiệp âm nhạc mạnh. Ở vị thế thứ nhất, Việt Nam cung cấp khán giả, địa điểm và dịch vụ. Ở vị thế thứ hai, chúng ta còn sở hữu nghệ sĩ, tác phẩm, thương hiệu, công nghệ, doanh nghiệp và tài sản trí tuệ đủ khả năng bước ra thế giới. Được các ngôi sao lựa chọn là tín hiệu đáng mừng; có những ngôi sao của chính mình được thế giới lựa chọn mới là dấu mốc trưởng thành.

Bởi vậy, cần chuyển từ tư duy tổ chức một sự kiện sang tư duy phát triển hệ sinh thái biểu diễn. Một concert lớn phải trở thành điểm kết nối giữa âm nhạc, du lịch, khách sạn, ẩm thực, thời trang, truyền thông và kinh tế đêm. Cùng với tấm vé, khán giả có thể được giới thiệu những hành trình khám phá di sản, những không gian sáng tạo và sản phẩm văn hóa đặc trưng. Doanh nghiệp và chính quyền cần tạo thuận lợi cho liên kết ngành. Khi ấy, người đến vì một ngôi sao có thêm lý do ở lại vì vẻ đẹp của Việt Nam, rồi trở lại vào dịp khác.

Muốn đi xa, chúng ta phải tháo gỡ những điểm nghẽn rất thực tế: thiếu địa điểm biểu diễn đạt chuẩn, giao thông và dịch vụ phụ trợ chưa đồng bộ, thủ tục tổ chức còn cần thông suốt hơn, khả năng quản trị đám đông và ứng phó rủi ro phải chuyên nghiệp hơn. Thị trường vé cần minh bạch để hạn chế đầu cơ, gian lận. Quan hệ giữa nghệ sĩ, nhà sản xuất, nhà tổ chức và nền tảng phân phối phải có chuẩn mực hợp đồng rõ ràng. Sự cố tổ chức có thể làm tổn hại uy tín điểm đến.

Tôi còn đặc biệt quan tâm đến bài toán tài sản trí tuệ. Giá trị của kinh tế âm nhạc không dừng lại ở vé vào cửa, mà còn ở bản quyền tác phẩm, quyền liên quan, ghi âm, phát trực tuyến, sản phẩm lưu niệm được cấp phép và khai thác thương hiệu lâu dài. Nếu quyền của người sáng tạo chưa được bảo vệ và lợi ích chưa được phân chia công bằng, doanh nghiệp khó đầu tư bền vững. Cần đào tạo nhà sản xuất, quản lý nghệ sĩ, kỹ sư và chuyên gia thị trường. Cảm hứng nghệ thuật cần được nâng đỡ bằng công nghệ, tri thức và năng lực quản trị.

Một điều cũng không thể quên: Đón những ngôi sao lớn phải đi đôi với nuôi dưỡng ngôi sao và thương hiệu của chính chúng ta. Concert của nghệ sĩ Việt, liên hoan âm nhạc mang dấu ấn địa phương, chương trình kết hợp chất liệu dân gian với ngôn ngữ đương đại đều có thể trở thành những sản phẩm cạnh tranh. Đừng đặt âm nhạc truyền thống và âm nhạc đại chúng ở hai phía đối lập. Khi biết sáng tạo, kể chuyện và ứng dụng công nghệ, những giai điệu, nhạc cụ, câu chuyện Việt Nam có thể có đời sống mới trên sân khấu hiện đại. Chúng ta không chỉ cần thị trường lớn, mà còn cần những sản phẩm có bản sắc và sức chinh phục.

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045. Những chỉ tiêu ấy đòi hỏi văn hóa thực sự trở thành nguồn lực phát triển. Khi Quốc hội đang xem xét dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, tôi cho rằng phải có cơ chế đột phá để huy động đầu tư tư nhân, phát triển hạ tầng biểu diễn, bảo vệ bản quyền, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân lực và đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế. Nhà nước cần kiến tạo môi trường thuận lợi; doanh nghiệp, nghệ sĩ và cộng đồng sáng tạo phải được trao không gian để phát huy tài năng.

Điều tôi mong đợi sau BlackPink, BigBang và những đêm nhạc lớn không chỉ là thêm những sân vận động rực sáng hay những tấm vé bán hết. Tôi mong một ngày khán giả từ khắp khu vực đến Việt Nam để thưởng thức nghệ sĩ Việt, tham dự lễ hội âm nhạc mang thương hiệu Việt, rồi đem theo những câu chuyện đẹp về đất nước chúng ta.

Khi ấy, Việt Nam không chỉ đón nhận sức hút văn hóa của thế giới mà còn đóng góp sức hút văn hóa của mình cho thế giới. Ánh đèn sân khấu có thể tắt sau mỗi đêm diễn, nhưng những giá trị được tạo dựng đúng hướng sẽ còn tiếp tục tỏa sáng.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn

TIN LIÊN QUAN







































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ