ĐBQH Lê Ngọc Sơn: Giải bài toán tăng trưởng hai con số bằng an ninh năng lượng và hạ tầng số
Cần cụ thể hóa bằng đầu tư hạ tầng số, dữ liệu và cơ chế
Tại phiên thảo luận tổ của Quốc hội sáng 10/4, Đại biểu Quốc hội Lê Ngọc Sơn (Đoàn ĐBQH TP HCM), Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) nhất trí cao với các báo cáo của Chính phủ đã trình bày trước Quốc hội.
Về mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, đại biểu Lê Ngọc Sơn nhìn nhận, đây là mục tiêu rất khát vọng, nhưng cần làm rõ kế hoạch thực thi, làm sao để đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu này.
Theo đại biểu Lê Ngọc Sơn, một trong những vấn đề cốt lõi hiện nay là hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn hạn chế, khi hệ số ICOR của Việt Nam đang ở mức khoảng 6,4, cao hơn đáng kể so với nhiều nền kinh tế trong khu vực như Hàn Quốc hay Đài Loan (Trung Quốc), nơi chỉ số này dao động khoảng 3-4.

ĐBQH Lê Ngọc Sơn - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) phát biểu trong phiên thảo luận tổ.
Nếu không cải thiện được chỉ số này, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn tới có thể phải duy trì ở mức 33-35% GDP, một con số rất lớn trong bối cảnh dư địa tài khóa và huy động vốn còn nhiều thách thức. Vì vậy, đại biểu Lê Ngọc Sơn đề xuất cần bổ sung các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tăng trưởng như năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), ICOR theo từng ngành, đồng thời làm rõ vai trò đóng góp của khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Một trong những điểm nhấn đáng chú ý trong kiến nghị của đại biểu Lê Ngọc Sơn là việc thúc đẩy phát triển kinh tế số. Theo ông, mục tiêu kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP vào năm 2030 là hoàn toàn phù hợp với xu thế toàn cầu, nhưng điều quan trọng là phải có lộ trình và giải pháp cụ thể để hiện thực hóa.
Trong đó, hạ tầng số, dữ liệu và cơ chế chính sách được xác định là ba trụ cột then chốt để các thành phần kinh tế cùng tham gia.
Cùng quan điểm về mở rộng không gian tăng trưởng, đại biểu Tào Đức Thắng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) cho rằng, Việt Nam cần đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài như một động lực quan trọng. Theo ông, thực tiễn cho thấy các tập đoàn lớn như Viettel, Petrovietnam hay một số doanh nghiệp công nghệ đã đạt được tăng trưởng đáng kể nhờ thị trường quốc tế, thậm chí chiếm tới 60-70% tổng tăng trưởng.
Từ đó, ông đề xuất Chính phủ cần xây dựng một chiến lược bài bản về đầu tư ra nước ngoài, trong đó kết hợp giữa chính sách đối ngoại, lựa chọn thị trường phù hợp và phát huy vai trò của các doanh nghiệp đầu đàn. Đây sẽ là cách để mở rộng dư địa tăng trưởng trong bối cảnh thị trường trong nước dần tiệm cận ngưỡng.

Đại biểu Tào Đức Thắng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel).
Liên quan đến đầu tư công, đại biểu Tào Đức Thắng cũng nhấn mạnh cần thay đổi cách tiếp cận theo hướng lấy hiệu quả làm trung tâm. Việc kéo dài tiến độ dự án, thiếu cơ chế đánh giá hiệu quả sau đầu tư đã làm giảm tác động lan tỏa của nguồn vốn nhà nước. Do đó, cần thiết lập hệ thống chỉ tiêu cụ thể để đo lường hiệu quả khai thác, từ tỷ lệ lấp đầy đến hiệu suất sử dụng, qua đó nâng cao trách nhiệm và tính minh bạch.
Việt Nam đang kiểm soát tốt về đảm bảo nguồn cung năng lượng
Bên cạnh các giải pháp về tăng trưởng, vấn đề đảm bảo an ninh năng lượng cũng được nhiều đại biểu quan tâm trong bối cảnh thế giới tiềm ẩn nhiều biến động. Đại biểu Lê Ngọc Sơn nhận định, Việt Nam thời gian qua đã ứng phó khá hiệu quả với các cú sốc năng lượng toàn cầu, đặc biệt là trong giai đoạn giá dầu biến động mạnh.
Theo đại biểu Lê Ngọc Sơn, với sự điều hành của Chính phủ và Bộ Công Thương, Việt Nam cơ bản đã kiểm soát tốt nguồn cung năng lượng, đảm bảo phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng. Đây là một trong những yếu tố nền tảng giúp ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì đà tăng trưởng.
Cụ thể, sản lượng khai thác dầu thô trong nước đạt khoảng 180.000 thùng/ngày, trong khi Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã nâng công suất vận hành lên tương đương 125% công suất thiết kế để hấp thụ tối đa nguồn dầu nội địa. Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn hiện đáp ứng khoảng 40% nhu cầu xăng dầu trong nước.
Tuy nhiên, dù hai nhà máy vận hành tối đa, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 30% xăng dầu thành phẩm và gần 40% dầu thô. Điều này cho thấy dư địa tự chủ năng lượng vẫn còn hạn chế, đòi hỏi các giải pháp dài hạn.
Nhiều đại biểu cũng bày tỏ lo ngại về mức dự trữ xăng dầu quốc gia hiện nay còn thấp. Theo mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam cần đạt mức dự trữ tương đương 90 ngày nhập khẩu ròng, nhưng thực tế hiện chỉ đáp ứng khoảng 7-10 ngày, hoặc tối đa 30 ngày nếu tính cả dự trữ thương mại.
Khoảng cách lớn này đặt ra yêu cầu cấp thiết về đầu tư hệ thống kho dự trữ chiến lược độc lập. Theo các đại biểu, đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật hay chi phí, mà là bài toán về năng lực tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.
Trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu vẫn tiềm ẩn nhiều bất định, việc xây dựng hệ thống dự trữ đủ lớn được ví như “bảo hiểm” cho nền kinh tế. Nếu không chủ động từ sớm, chi phí phải trả khi khủng hoảng xảy ra sẽ lớn hơn rất nhiều.
Có thể thấy, từ câu chuyện hiệu quả đầu tư, phát triển kinh tế số, mở rộng không gian tăng trưởng đến đảm bảo an ninh năng lượng, các ý kiến tại nghị trường đã cho thấy một điểm chung: để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam không chỉ cần thêm nguồn lực, mà quan trọng hơn là phải sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả, có chiến lược và tầm nhìn dài hạn.
ĐK
1 giờ trước
24 phút trước
12 phút trước
5 phút trước
2 phút trước
6 phút trước
16 phút trước
16 phút trước
21 phút trước
23 phút trước
28 phút trước
29 phút trước