🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng đề xuất nhiều giải pháp đột phá, khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng 2 con số

1 giờ trước
Sáng 10/4, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, các ĐBQH Tổ 7 (gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh Lâm Đồng và Nghệ An) tập trung thảo luận nhiều nội dung quan trọng liên quan đến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, kế hoạch đầu tư công trung hạn và các giải pháp huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Đồng chí Y Thanh Hà Niê Kđăm, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng điều hành phiên thảo luận. Ảnh: Nguồn trang cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam

Nhiều ý kiến tâm huyết, thẳng thắn của các đại biểu Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng đã tập trung làm rõ yêu cầu đổi mới thể chế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy cải cách thủ tục đầu tư công và bảo đảm chất lượng tăng trưởng bền vững trong giai đoạn tới.

Phiên thảo luận do đồng chí Y Thanh Hà Niê Kđăm, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng điều hành, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, chủ động định hướng thảo luận, góp phần làm rõ nhiều vấn đề trọng tâm về phân bổ nguồn lực, khả năng hấp thụ vốn và các giải pháp tạo đột phá cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2026 - 2030.

Cần cơ chế đặc biệt để huy động vốn đầu tư toàn xã hội

Bà Phạm Thị Hồng Yến, Ủy viên là ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng phát biểu. Ảnh: Nguồn trang cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam

Tham gia thảo luận, bà Phạm Thị Hồng Yến, Ủy viên là ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng cơ bản thống nhất với các báo cáo của Chính phủ, đồng thời đánh giá cao tinh thần thẳng thắn trong việc nhìn nhận hạn chế, khuyết điểm.

Đi sâu vào nội dung cụ thể, bà Yến cho biết, theo dự kiến, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026 - 2030 sẽ chiếm khoảng 38 - 40% GDP, tương đương khoảng 38 - 40 tỷ USD. Đây là nguồn lực rất lớn, đặt ra yêu cầu phải xác định rõ các kênh huy động và phương thức triển khai phù hợp cả trong ngắn hạn và dài hạn.

“Chính phủ đã đề xuất nhiều giải pháp như phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương, trái phiếu dự án. Tuy nhiên, cần nghiên cứu, thiết kế thêm các phương án phát hành đa dạng hơn, đặc biệt là các công cụ dài hạn như trái phiếu 10 năm, 20 năm, 30 năm, hợp đồng góp vốn… để bảo đảm dòng vốn đến tận năm 2045”, bà Yến nhấn mạnh.

Theo bà, các công cụ này cần đi kèm mức lãi suất hợp lý, được cam kết ngay từ đầu, đồng thời gắn với các lợi ích dài hạn để thu hút sự tham gia của cả tổ chức và người dân. “Việc sở hữu trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương hoặc trái phiếu dự án có thể gắn với quyền khai thác, sử dụng các công trình trong tương lai. Qua đó, người dân có thể trực tiếp tham gia đóng góp nguồn lực và hưởng lợi từ quá trình phát triển”, bà Yến phân tích.

Bên cạnh đó, bà cũng đề cập đến giải pháp phát triển các định chế tài chính dài hạn. Theo bà, hiện nay, hệ thống tài chính chủ yếu dựa vào các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại, trong khi nhu cầu đầu tư dài hạn rất lớn.

“Cần phát triển các mô hình ngân hàng đầu tư hoặc các định chế tài chính chuyên biệt để tạo ra sản phẩm đầu tư dài hạn, hạn chế đầu cơ, đồng thời mở ra cơ hội cho người dân tham gia đầu tư hiệu quả hơn”, bà Yến đề xuất.

Bảo đảm tính khả thi của mục tiêu tăng trưởng, chú trọng chất lượng phát triển

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận.Ảnh: Nguồn trang cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam

Quan tâm đến mục tiêu tăng trưởng 2 con số, ĐBQH Đặng Đức Hiệp, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Xuân Hương - Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng) cho rằng, đây là mục tiêu tích cực nhưng cần đặt trong điều kiện thực tế.

“Việc đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số là cần thiết nhưng phải gắn với điều kiện cụ thể và tính khả thi, không chỉ chú trọng tốc độ mà phải đặc biệt quan tâm đến chất lượng tăng trưởng”, ông Hiệp nêu rõ.

Theo ông, nếu chỉ tập trung vào tốc độ sẽ đòi hỏi nguồn lực rất lớn và có thể phát sinh nhiều hệ quả, nhất là đối với tài nguyên và môi trường.

“Chất lượng tăng trưởng cần chú trọng 2 yếu tố là tài nguyên và môi trường, bởi đây vừa là nguồn lực, vừa là công cụ điều tiết cho phát triển”, ông Hiệp phân tích.

Đề cập đến giải pháp cụ thể, ông nhấn mạnh vai trò của hạ tầng số trong phát triển kinh tế số: “Muốn phát triển kinh tế số thì hạ tầng số phải đi trước một bước. Cần có cơ chế, chính sách đủ mạnh, phù hợp để thu hút nguồn lực đầu tư vào hạ tầng số, tương tự như đã làm với hạ tầng giao thông”.

Ông cũng lưu ý việc đầu tư hạ tầng số cần đồng bộ, tránh phân tán, thiếu kết nối gây lãng phí. Bên cạnh đó, ông Hiệp đặc biệt quan tâm đến phát triển kinh tế rừng. Theo ông, với diện tích rừng gần 15 triệu ha, đây là nguồn lực rất lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả.

“Một trong những nguyên nhân là do thiếu cơ chế rõ ràng về thị trường tín chỉ carbon, từ định giá, đấu thầu đến phương thức giao dịch, khiến địa phương còn e ngại triển khai”, ông Hiệp nêu thực tế.

Về nông nghiệp, ông cho rằng, cần chuyển mạnh từ sản xuất sang phát triển kinh tế nông nghiệp: “Nếu không nâng cao giá trị gia tăng, dù GDP tăng trưởng nhưng đời sống người dân vẫn chưa được cải thiện tương xứng”.

Tăng cường kỷ luật tài chính, bảo đảm khả năng hấp thụ vốn

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận. Ảnh: Nguồn trang cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam

Ông Nguyễn Trường Giang, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, Chủ tịch Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam - Pakistan, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng cho rằng cần đặt vấn đề trong bối cảnh tổng nhu cầu vốn rất lớn.

Theo ông Giang, với kịch bản tăng trưởng 2 con số, nhu cầu vốn đầu tư có thể lên tới khoảng 8,2 triệu tỷ đồng, so với giai đoạn trước khoảng 2,8 triệu tỷ đồng. “Đây là mức tăng gần 3 lần, do đó cần xây dựng các kịch bản phân bổ vốn cụ thể, phù hợp để bảo đảm khả năng thực hiện”, ông Giang đề nghị.

Ông Giang cũng nhấn mạnh yêu cầu thực hiện nghiêm việc cắt giảm danh mục đầu tư theo Kết luận số 18: “Cần quy định rõ trong nghị quyết của Quốc hội về việc cắt giảm tối thiểu 30% danh mục dự án, có địa chỉ cụ thể, tránh tình trạng chung chung”

Đặc biệt, ông cảnh báo về khả năng hấp thụ vốn: “Ngay cả khi bố trí đủ vốn, nếu triển khai đồng loạt các dự án thì năng lực thi công, vật liệu, nhân lực đều có thể bị quá tải, do đó cần hết sức thận trọng”.

Ngoài ra, ông Giang đề cập đến việc nâng cao hiệu quả công tác kiểm toán và làm rõ việc sử dụng kết quả kiểm toán, cũng như trách nhiệm trong chi ngân sách, nhất là đối với lĩnh vực khoa học - công nghệ khi mức chi thực tế còn thấp so với yêu cầu.

Cải cách thủ tục, tập trung nguồn lực, nâng cao hiệu quả đầu tư công

Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng Dương Khắc Mai đóng góp ý kiến tại phiên thảo luận. Ảnh: Nguồn trang cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam

Góp ý vào kế hoạch đầu tư công trung hạn, ông Dương Khắc Mai, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng cơ bản thống nhất với báo cáo của Chính phủ, đồng thời chỉ ra một số hạn chế trong giai đoạn 2021 - 2025.

“Thực tế vẫn còn một số công trình kéo dài nhiều năm, chất lượng chưa tốt, công nghệ nhanh lạc hậu sau khi hoàn thành”, ông Mai nêu.

Từ đó, ông Mai đề xuất cần rút kinh nghiệm sâu sắc và có giải pháp cụ thể cho giai đoạn tới. Một trong những giải pháp quan trọng là cắt giảm thủ tục hành chính: “Cần hợp nhất bước phê duyệt chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư thành một bước để rút ngắn thời gian chuẩn bị”. Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng với cơ chế linh hoạt, bảo đảm hài hòa lợi ích với người dân.

Ông cũng nhấn mạnh việc tập trung nguồn vốn: “Cần bố trí vốn dứt điểm cho các dự án trọng điểm thay vì dàn trải nhiều năm, đồng thời có cơ chế thưởng cho các dự án hoàn thành vượt tiến độ”.

Đối với các chương trình mục tiêu quốc gia, ông đề nghị giao vốn sớm và tăng cường phân cấp cho địa phương, đặc biệt là cấp xã. “Cấp cơ sở là nơi gần dân, sát dân, nếu được phân cấp hợp lý sẽ phát huy hiệu quả rất nhanh”, ông Mai nhấn mạnh.

Quang cảnh diễn ra phiên họp. Ảnh: Nguồn trang cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam

Các ý kiến của đại biểu tỉnh Lâm Đồng tại phiên thảo luận Tổ 7 đã tập trung làm rõ nhiều vấn đề cốt lõi. Điểm chung xuyên suốt là yêu cầu phải tiếp tục đột phá về thể chế, hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện. Đây chính là điều kiện tiên quyết để khơi thông nguồn lực trong xã hội, tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.

Thanh Nhàn
















Home Icon VỀ TRANG CHỦ