Dấu chân nhà thơ khuyết gót
Trong số những tân sinh viên nhập học năm 71, Nguyễn Khánh Thụy là chàng trai Hà Nội có khuôn mặt bầu bĩnh, sáng sủa, thông minh, nhưng dáng vóc gầy gò, thanh mảnh, đúng kiểu thư sinh. Bạn bè ngày đầu năm học rất lấy làm lạ: Tại sao Khánh Thụy không bao giờ đá bóng, dáng đi lúc nào cũng chui chúi về phía trước, quần may dài khuất gót, đi như sắp ngã, và đặc biệt là được nhà trường miễn hoàn toàn môn học thể dục thể thao.

Trở thành nhà thơ của trung đoàn lúc nào không biết
Tháng 9.1972, đúng một năm sau, vừa học xong năm thứ nhất, Nguyễn Khánh Thụy cùng gần chục bạn trai trong lớp lại đến lượt viết đơn tình nguyện lên đường. Không ai hình dung Nguyễn Khánh Thụy lại đủ sức khỏe trúng tuyển nghĩa vụ quân sự. Trước ngày lên đường, nửa đêm về sáng bạn bè phát hiện ra anh rón rén ra đường, chạy một mình. Có cô bạn gái trong lớp đoán già đoán non rằng, Nguyễn Khánh Thụy chạy giữa nửa đêm vì… sợ chết.
Tin tức không vui từ mặt trận Thành cổ Quảng Trị khi đó bay ra làm nản lòng bao người. Khánh Thụy sợ, không ngủ nổi nên chạy cho tan nỗi sợ hãi? Chạy để giải tỏa nỗi lo âu trước cuộc chiến khốc liệt đang đến với mình chăng? Không kiềm chế được sự tò mò, bạn bè hỏi thật, Nguyễn Khánh Thụy vui vẻ trả lời: “Tớ giấu bác sĩ nên vẫn trúng tuyển, sức khỏe hạng B1, vẫn đủ điều kiện nhập ngũ. Tớ chạy luyện tập để hành quân ra trận đấy. Tớ bị các cậu gọi đùa là Hephaixtot, thần thợ rèn, dáng đi như ngọn lửa lập bùng trong thần thoại Hy Lạp là có lý đấy. Tớ có tật bẩm sinh mà”. Anh kéo ống quần lên cho mọi người xem. Hóa ra cả hai bàn chân anh đều thiếu gót. Bạn bè nhìn kỹ hai bàn chân anh mà se lòng. Hai bàn chân đủ mười ngón, đều đặn, nhưng lòng bàn chân vụt cong lên, không có tí gót nào.
Trong mấy tháng huấn luyện bộ binh, anh không để tiểu đội mình mất điểm thi đua trong tất cả các bài tập kỹ chiến thuật, kể cả hành quân vác nặng. Anh cũng từ chối việc viết đơn đề nghị cho mình chuyển sang đơn vị hành quân cơ giới. Cho đến ngày kết thúc huấn luyện, chuẩn bị lên đường, các sĩ quan chỉ huy vẫn không biết đại đội mình là đơn vị thiếu… hai gót chân.
Ba tháng sau, Nguyễn Khánh Thụy đã cùng đồng đội vượt Trường Sơn, vào tăng cường cho chiến trường Đông Nam Bộ. Chỉ trên đường hành quân, nhìn Nguyễn Khánh Thụy, mọi người mới thấy bàn chân là thứ quý giá nhất trên cơ thể con người. Vào mùa mưa, những lối mòn Trường Sơn đất nhão nhoét, trơn tuột.
Khánh Thụy không đi giày, vì lội qua các bãi sình lầy là hai chiếc giày nằm lại trong bùn, không bõ công mò xỏ lại. Còn đi dép lội rừng với Nguyễn Khánh Thụy vẫn là một cực hình. Cái quai hậu của chiếc dép cao su với anh trở nên thừa, vì anh không có gót. Chỉ bước đi một vài chục mét, mặc dù chống gậy, chúi người cho đổ trọng tâm về phía trước, dép của anh vẫn bị tuột. Nó không tuột về phía trước mà tuột về sau. Có lúc dép chạy lên ôm lấy bắp chân lúc nào không biết. Đơn vị nhường cho anh các kiểu giày, kiểu tất kiếm được. Có tuần hành quân anh chỉ đi bằng tất. Những đôi tất có sợi tơ vàng quanh đáy, do Trung Quốc sản xuất rất bền, nhưng anh đi chỉ xỏ vào lội bùn, trèo đèo hai ngày là nát.
Dọc đường anh bị sốt rét hành hạ. Anh biết, nếu dừng lại ở binh trạm nào đó để chữa bệnh, rất dễ chết hoặc lạc đơn vị, không thể chạy đuổi theo hoặc tìm được đại đội của mình. Anh quyết định buộc sợi dây vào bụng rồi nhờ đồng đội kéo đi. Có lần cơn sốt ập đến, anh vẫn nhắm mắt, không biết mình thức hay mê ngủ, mồ hôi vã ra, đôi bàn chân líu ríu bước theo sợi dây lúc căng lúc chùng, kéo mình về phía trước.
Đồng đội khổ một, anh khổ mười, nhưng anh không bao giờ tắt được nụ cười tươi. Anh nổi tiếng suốt dọc đường hành quân không phải vì dị tật và ý chí sắt đá của người lính Cụ Hồ mà vì tài năng thi ca. Ai trông thấy anh, chỉ cần giục: “Thụy đọc thơ đi” là anh lập tức đọc tặng một bài. Đồng đội nào muốn làm quen với anh, chỉ cần bày tỏ nguyện vọng thích nghe thơ, anh lập tức bắt chuyện, hỏi thăm quê quán, gia đình. Thơ anh đọc trên chặng đường hành quân tháng 11.1972 phần lớn là những bài thơ chiến trận.
Những bài thơ như Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, Tiểu đội xe không kính, Gặp em cô thanh niên xung phong… của Phạm Tiến Duật, hay Núi Đôi của Vũ Cao, anh đọc hàng chục lần, mọi người nghe không chán, thậm chí nhiều người đã thuộc lòng theo. Biết anh là sinh viên Văn khoa, đồng đội khai thác tài năng anh đến triệt để. Sang đầu tháng 2.1973, khi đã đi hết đường mòn Hồ Chí Minh, nhiều người trong đại đội không thích nghe thơ chiến trận nữa, lại bắt anh đọc thơ tình Xuân Diệu, Nguyễn Bính hoặc kể lại Truyện Kiều.
Khi thấy vốn thơ đã cạn, anh chuyển sang đọc thơ của chính mình. Đó là những bài phơi phới tinh thần lạc quan, tin tưởng vào chiến thắng tất yếu của công cuộc giải phóng miền Nam. Thơ anh ca ngợi vẻ đẹp bí ẩn của đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, vẻ đẹp của chòm sao Bắc Đẩu gợi nhớ sắc nắng Ba Đình. Anh đặt ra định mức sáng tác cho mình: Mỗi ngày ít nhất phải ra một bài thơ. Vậy là dọc các chặng đường hành quân, từ Nam Đàn - Tuyên Hóa - Bố Trạch rồi vượt Trung Lào, Hạ Lào, xuyên sang Đông bắc Campuchia để đến với miền đất Đông Nam Bộ, Nguyễn Khánh Thụy đã trở thành nhà thơ của trung đoàn lúc nào không biết.
Bài thơ Sống mãi với tuổi 20
Một trong những câu chuyện gây ấn tượng nhất anh kể là mô típ thần thoại Hy Lạp trong trường ca Iliad của Homer. Chuyện kể rằng mẹ của Asin là nữ thần Thetis đã nhúng con xuống dòng sông âm phủ Styx cho cơ thể cậu bé Asin trở thành mình đồng da sắt, bất khả xâm phạm. Tuy vậy, do sơ ý, bà đã nắm chắc đứa bé sơ sinh của mình ở gót chân. Vì vậy, phần gót chân đã không được nước sông chạm tới. Lớn lên, Asin trở thành người anh hùng bách chiến bách thắng nhưng gót chân Asin đã thành điểm tử huyệt. Về sau, trong cuộc chiến tranh thành Tơroa, đối phương đã phục kích bắn trúng gót chân làm Asin tử trận… Kể chuyện xong, Nguyễn Khánh Thụy cười tếu: “Thụy này không có gót chân là không hề có chỗ nào là điểm yếu. Thụy là một chiến binh bất tử, mình đồng da sắt, hoặc bom đạn phải tránh mình, chỉ lo ế vợ vì bước chân chấm phẩy mà thôi”.
Trung đoàn 271 của Nguyễn Khánh Thụy bắt đầu tác chiến lần lượt qua các địa bàn Tây Ninh, Long An, Quảng Đức. Anh chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công nhưng không được đề bạt hoặc giao nhiệm vụ chỉ huy. Lý do rất đơn giản: Không có gót chân, anh không thể đi đầu đội hình xuất kích, xung phong. Chậm chân, anh thường bị tụt phía sau, nhận vị trí của tay súng bắn yểm trợ, chạy phía sau đồng đội. Trong các chiến dịch, anh được ưu tiên đánh phòng thủ hoặc giữ chốt. Điều quý nhất là trong những ngày trên chốt, anh thường lân la đến từng tiểu đội nói chuyện, đọc thơ. Thời gian Trung đoàn đóng quân dưới chân dãy Atôpơ (Lào), có nhiều người nhầm tưởng Khánh Thụy là chính trị viên đang “đi sâu đi sát”, đến từng tiểu đội để làm công tác tư tưởng, động viên chiến sĩ.
Thực ra, những bài thơ Khánh Thụy viết không hay. Vì đó là những bài thơ thời sự, anh viết đều đặn mỗi ngày, viết kịp thời, đôi khi hài hước để làm vui cho đồng đội. Những chàng lính trẻ của Đại học Tổng hợp và Đại học Bách Khoa trong Trung đoàn gần như đều nhớ hai câu anh viết tưởng tượng buổi chia tay người yêu ra trận: Anh dắt em đi trời sắp sáng rồi/ Mà trong tim anh, gà chưa muốn gáy. Quyển sổ tay thơ chép những bài anh sáng tác mỗi tháng lại chi chít những ký hiệu, chữ to chữ nhỏ. Đó là những ý kiến của đồng đội góp ý cho từng hình ảnh, tứ thơ. Anh đã có lần nói thật: “Thơ anh chỉ là thơ mộc, là bản thảo lần đầu. Giải phóng miền Nam, hòa bình, về Hà Nội, anh sẽ sửa kỹ, hoàn chỉnh để xuất bản tập đầu tay”.
Nhưng mơ ước của anh đã không thành hiện thực. Tháng tư năm 1975, sau khi giải phóng thị xã Phước Long, Trung đoàn 271 tiến vào bao vây cô lập địch tại Mỹ Tho, Long An, chuẩn bị cho Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn. Trong đội hình hành quân của mũi tiến công phía Tây, Nguyễn Khánh Thụy vui chân đi nhanh như chỉ đi bằng ngón. Nhưng trên đường tiếp cận mục tiêu, hố cá nhân của anh trúng một quả pháo kích. TS Chu Đức Tính và đồng đội ở hầm bên cạnh chỉ nghe thấy tiếng anh gọi mẹ, cùng lúc với chiếc ba lô tung lên cao. Anh bị vết thương ở bụng, rất sâu. Được chuyển về trạm phẫu trung đoàn cùng chiếc ba lô, nằm trong cáng, anh vẫn vươn tay ra hiệu cho chiến sĩ công binh khênh đầu cáng tìm hộ mình cuốn sổ tay thơ.
Hai ngày sau, ngày 16.4.1975, tức là còn 10 ngày nữa mới có lệnh Tổng tấn công giải phóng Sài Gòn, từ trạm phẫu Trung đoàn 271 có điện báo về: Nhà thơ của trung đoàn đã vĩnh viễn ra đi. Mấy chục năm qua, đồng đội của Trung đoàn 271 vẫn thay nhau đến con ngõ 43 phố Nguyễn Hữu Huân, tìm nhà Nguyễn Khánh Thụy thắp hương, tưởng nhớ. Hỏi chuyện những người cùng trang lứa cùng phố, rất nhiều người còn nhớ năm xưa hình ảnh anh phụ trách Đội Nguyễn Khánh Thụy, dáng đi tập tễnh, những đêm trăng sáng vẫn thường dạy các em thiếu nhi học hát, học làm thơ. Mọi người đều chung một ý nghĩ trong đầu: Nếu anh còn sống, trở về, Bệnh viện Quân y 108 dễ dàng phẫu thuật lắp cho anh đôi gót chân nhân tạo; nếu tìm được tập thơ anh viết, đồng đội sẽ thay anh hoàn thiện, xuất bản tặng đồng đội, bạn bè.
Nhưng rồi nhìn lâu lâu khuôn mặt anh trong ảnh, anh như đang nói với mọi người: Giả thuyết ấy là thừa. Cuộc đời ngắn ngủi của anh tự nó đã là một bài thơ lớn, bài thơ Sống mãi với tuổi 20.
PHẠM THÀNH HƯNG
1 giờ trước
2 giờ trước
53 phút trước
57 phút trước
Vừa xong
Vừa xong
Vừa xong
4 phút trước
5 phút trước
9 phút trước
10 phút trước
10 phút trước
17 phút trước
19 phút trước
20 phút trước
25 phút trước
26 phút trước