Dấu ấn nghiên cứu khoa học của Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 7 tại Nam Sudan
Những dữ liệu được tích lũy từ các ca bệnh, hoạt động vận chuyển y tế đường không, phòng, chống dịch bệnh và quản lý bệnh viện đã được chuyển hóa thành các công trình khoa học, góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn và khẳng định năng lực của quân y Việt Nam trên các diễn đàn học thuật quốc tế.
Cuối tháng 7 vừa qua, tại Hội nghị quốc tế lần thứ 11 về phát triển Kỹ thuật y sinh tại Việt Nam (BME11) diễn ra tại Cam Ranh – Nha Trang, Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 7 (BVDC2.7) có bốn công trình nghiên cứu được lựa chọn trình bày dưới hình thức poster khoa học.

Đặc biệt, nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị sốt rét tại Bệnh viện dã chiến cấp 2 Việt Nam ở Bentiu, Nam Sudan trong giai đoạn 2021-2025” được Ban tổ chức trao chứng nhận Best Poster Presentation.
Giải thưởng là sự ghi nhận đối với một công trình khoa học. Nhưng phía sau đó là nỗ lực của nhiều thế hệ cán bộ quân y Việt Nam cùng quá trình tích lũy, kế thừa dữ liệu chuyên môn qua nhiều nhiệm kỳ Bệnh viện dã chiến cấp 2 tại Bentiu. Chính sự kế thừa ấy đã tạo nên một bộ dữ liệu đủ chiều sâu để phản ánh bức tranh điều trị sốt rét tại một địa bàn có gánh nặng bệnh tật cao, trong môi trường phái bộ đa quốc gia.
Nghiên cứu bắt đầu từ những nhiệm vụ thường ngày
Từ những nhiệm vụ vận chuyển y tế đường không trong điều kiện an ninh phức tạp, các ca sốt rét tại địa bàn dịch lưu hành đến nguy cơ dịch bệnh gia tăng trong mùa ngập lụt và yêu cầu quản lý bệnh viện khi hạ tầng công nghệ thông tin còn hạn chế, thực tiễn Bentiu liên tục đặt ra những bài toán mới đối với đội ngũ quân y Việt Nam. Đó là những vấn đề mà cán bộ, nhân viên BVDC2.7 phải đối mặt mỗi ngày tại Phái bộ UNMISS.
Ở Bentiu, mỗi ca bệnh đều cần được xử trí nhanh chóng để bảo đảm an toàn cho người bệnh và duy trì khả năng sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ của lực lượng gìn giữ hòa bình. Sau mỗi ca điều trị, hồ sơ bệnh án tiếp tục được rà soát, số liệu được chuẩn hóa, đối chiếu với các trường hợp tương tự để đánh giá hiệu quả điều trị, rút kinh nghiệm chuyên môn và bổ sung dữ liệu nghiên cứu.
Những số liệu thu thập được không chỉ phục vụ công tác điều trị trước mắt mà còn giúp bệnh viện nhận diện những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy trình chuyên môn và nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Từ quá trình đó, nhiều hướng nghiên cứu mới đã được hình thành, gắn trực tiếp với những yêu cầu đặt ra trong hoạt động của bệnh viện dã chiến.
Bốn công trình được giới thiệu tại BME11 đều xuất phát từ những vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, từ kiểm soát côn trùng, chăm sóc người bệnh, điều trị sốt rét đến chuyển đổi số trong quản lý bệnh viện.
Từ hồ sơ bệnh án thực tế đến các công trình khoa học
Trong bốn công trình được giới thiệu tại BME11, nghiên cứu về bệnh sốt rét được đánh giá cao không chỉ bởi kết quả đạt được mà còn bởi giá trị của bộ dữ liệu được xây dựng qua nhiều năm.

Nhóm nghiên cứu đã hồi cứu 155 bệnh nhân mắc sốt rét là cán bộ, nhân viên Liên hợp quốc được điều trị tại các Bệnh viện dã chiến cấp 2 Việt Nam ở Bentiu trong giai đoạn 2021-2025.
Bộ dữ liệu được hình thành trên nhóm đối tượng đến từ nhiều quốc gia, làm việc trong cùng điều kiện dịch tễ nhưng có đặc điểm sức khỏe và khả năng đáp ứng điều trị khác nhau, qua đó tạo thêm giá trị tham khảo cho hoạt động quân y trong môi trường gìn giữ hòa bình đa quốc gia.
Đáng chú ý, bộ dữ liệu này được kế thừa, bổ sung và chuẩn hóa qua nhiều nhiệm kỳ Bệnh viện dã chiến cấp 2 Việt Nam. Những hồ sơ bệnh án ban đầu phục vụ công tác điều trị đã trở thành nguồn dữ liệu có giá trị phục vụ nghiên cứu dịch tễ học, hoàn thiện quy trình điều trị và bảo đảm quân y trong hoạt động gìn giữ hòa bình.
Việc công trình được trao chứng nhận Best Poster Presentation là sự ghi nhận của Hội đồng chuyên môn tại BME11 đối với giá trị thực tiễn của bộ dữ liệu được xây dựng từ hoạt động quân y tại Bentiu.
Theo Trung tá, BSCKII Phan Thế Nhật, đại diện nhóm tác giả, giá trị lớn nhất của nghiên cứu không nằm ở giải thưởng, mà ở việc xây dựng được bộ dữ liệu tin cậy về bệnh sốt rét qua 5 năm hoạt động của các Bệnh viện dã chiến cấp 2 Việt Nam tại Bentiu.
"Kết quả nghiên cứu giúp lực lượng quân y chủ động hơn trong dự phòng, bảo đảm thuốc, vật tư y tế và quản lý người bệnh sau điều trị, đồng thời cung cấp thêm cơ sở thực tiễn cho các đơn vị đang làm nhiệm vụ tại Phái bộ UNMISS", BSCKII Phan Thế Nhật chia sẻ.
Để có được bộ dữ liệu kéo dài 5 năm với độ tin cậy cao, các nhóm nghiên cứu cũng phải vượt qua không ít khó khăn đặc thù của môi trường dã chiến. Rào cản ngôn ngữ, quy trình chuyên môn của Liên hợp quốc, hạn chế trong triển khai một số kỹ thuật xét nghiệm chuyên sâu hay việc duy trì, chuẩn hóa dữ liệu qua nhiều nhiệm kỳ đều đặt ra những yêu cầu rất cao đối với đội ngũ cán bộ nghiên cứu.
Một môi trường nghiên cứu được hình thành từ thực tiễn
Theo Trung tá, TS Trần Đức Tài, Giám đốc BVDC2.7, nghiên cứu khoa học chỉ thực sự có ý nghĩa khi phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ. "Thông qua nghiên cứu, bệnh viện có điều kiện nhìn lại quá trình thực hiện nhiệm vụ, theo dõi sự thay đổi của mô hình bệnh tật để chủ động hơn trong chuẩn bị lực lượng, thuốc, vật tư y tế và nâng cao khả năng sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ", Trung tá, TS Trần Đức Tài cho biết.
Kết quả tại BME11 không phải thành tích đơn lẻ, mà được hình thành từ quá trình duy trì hoạt động nghiên cứu liên tục và bền bỉ trong toàn bệnh viện. Chỉ tính từ tháng 8/2025 đến nay, các cán bộ của BVDC2.7 đã công bố 15 bài báo khoa học, gồm 7 bài báo trên các tạp chí khoa học trong nước và 8 bài báo trên các tạp chí quốc tế.
Đây là kết quả đáng ghi nhận đối với một đơn vị đang thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện dã chiến tại Nam Sudan. Các công trình trải rộng trên nhiều lĩnh vực như bệnh truyền nhiễm nhiệt đới, sức khỏe quân nhân, vận chuyển cấp cứu đường không, ngoại khoa, quản lý bệnh viện dã chiến, quản lý trang thiết bị y tế và chuyển đổi số. Dù thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, các công trình đều bắt nguồn từ những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tại Nam Sudan và hướng tới hoàn thiện công tác bảo đảm quân y.
Qua từng nhiệm kỳ, nghiên cứu khoa học đã trở thành một phần trong năng lực chuyên môn của các Bệnh viện dã chiến cấp 2 Việt Nam, góp phần bổ sung những dữ liệu và kinh nghiệm thực tiễn cho lĩnh vực quân y trong hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.
Trong nhiệm kỳ công tác BVDC2.7 còn có ba công trình tham gia Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong Quân đội lần thứ 26, trong đó một công trình đạt giải Ba và một công trình đạt giải Khuyến khích.
Đơn vị cũng chủ động xây dựng phần mềm quản lý bệnh viện trên nền tảng mạng nội bộ, hỗ trợ chuyển đổi số, giảm thao tác giấy tờ và thuận lợi hơn trong công tác quản lý, tổng hợp số liệu, báo cáo trong điều kiện đặc thù của bệnh viện dã chiến.

Để tri thức tiếp tục đồng hành cùng những nhiệm kỳ sau
Nghiên cứu khoa học không trực tiếp thay thế hoạt động cấp cứu, điều trị hay phẫu thuật, nhưng kết quả nghiên cứu cung cấp thêm căn cứ để hoàn thiện quy trình, nâng cao chất lượng xử trí và giúp các nhiệm kỳ sau chủ động hơn khi gặp những tình huống tương tự.
Từ những hồ sơ bệnh án được lưu giữ tại Bentiu đến các bài báo khoa học công bố trong nước và quốc tế, từ những khó khăn trong công tác chuyên môn, quản lý đến các giải pháp ứng dụng trong thực tiễn, hành trình ấy cho thấy nghiên cứu khoa học đã trở thành một phần của năng lực chuyên môn, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của Bệnh viện dã chiến cấp 2 Việt Nam tại Phái bộ UNMISS.
Đó cũng là một giá trị mà lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam mang đến Liên hợp quốc: không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, mà còn đóng góp những tri thức được hình thành từ chính thực tiễn, góp phần làm giàu thêm kinh nghiệm của quân y Việt Nam và cộng đồng y học quốc tế.
Chu An
2 giờ trước
2 ngày trước
2 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
19 ngày trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
4 giờ trước
2 giờ trước
1 giờ trước
9 phút trước
26 phút trước
45 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước