🔍
Chuyên mục: Thời sự

Dấu ấn đổi mới tư duy đối ngoại qua các văn kiện đại hội Đảng trong 40 năm Đổi mới

2 giờ trước
Sau mỗi kỳ Đại hội, đường lối lãnh đạo toàn diện của Đảng đã được bổ sung, hoàn chỉnh và đúc kết trong Văn kiện Đảng qua các kỳ Đại hội, trong đó có đường lối đối ngoại là kim chỉ nam cho đối ngoại và ngoại giao Việt Nam trưởng thành, lớn mạnh, đổi mới và phát triển, đạt nhiều thành tựu vĩ đại, lịch sử.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986)đã đặt nền móng cho bước đột phá mang tính lịch sử, với phương châm "thêm bạn, bớt thù" và chuyển dịch trọng tâm từ đối đầu sang hợp tác. (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Từ 19-23/1/2026, Đại hội toàn quốc lần thứ 14 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định những vấn đề “lịch sử” mang ý nghĩa chiến lược cho sự nghiệp cách mạng của đất nước. Đây là nơi tập trung cao độ trí tuệ, ý chí, tầm nhìn… của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân để xác lập những đột phá chiến lược, đặc biệt là mô hình tăng trưởng mới, khơi dậy khát vọng phát triển và tinh thần dấn thân đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình. Sau mỗi kỳ Đại hội, Đường lối lãnh đạo toàn diện của Đảng đã được bổ sung, hoàn chỉnh và đúc kết trong Văn kiện Đảng qua các kỳ Đại hội, trong đó đường lối đối ngoại là kim chỉ nam cho đối ngoại và ngoại giao Việt Nam trưởng thành, lớn mạnh, đổi mới và phát triển, đạt nhiều thành tựu vĩ đại, lịch sử. Đặc biệt, trong 40 năm Đổi mới, Đảng ta luôn kế thừa, đổi mới và phát triển tư duy đối ngoại để đáp ứng với thực tiễn tình hình mới của quốc tế và trong nước.

Đại hội VI (1986) diễn ra trong bối cảnh đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế xã hội, đã đặt nền móng cho bước đột phá mang tính lịch sử, với phương châm "thêm bạn, bớt thù" và chuyển dịch trọng tâm từ đối đầu sang hợp tác, Đảng ta thực hiện chuyển đổi từ tư duy đối ngoại chủ yếu dựa vào ý thức hệ sang nhìn nhận thế giới là không gian chung nơi các nước có chế độ chính trị khác nhau nhưng có thể hợp tác và đấu tranh “cùng tồn tại hòa bình”. Đây là tiền đề cốt lõi để xác định nhiệm vụ tiên phong của đối ngoại là giữ vững hòa bình để tập trung phát triển kinh tế, mở đường cho việc phá thế bị bao vây, cấm vận về kinh tế và cô lập về chính trị để khởi đầu công cuộc Đổi mới.

Kế thừa tư duy mở từ Đại hội VI, Đại hội VII (1991) đã nâng tầm chiến lược thông qua chủ trương “đa phương hóa, đa dạng hóa” với tuyên bố lịch sử: “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Sự đổi mới này phản ánh sự nhạy bén của Đảng trước sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, giúp Việt Nam thoát khỏi tình trạng "nhất biên đảo" để thiết lập quan hệ bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các quốc gia không phân biệt chế độ chính trị. Đây là bước ngoặt quan trọng giúp chúng ta bình thường hóa quan hệ với các nước lớn và bắt đầu quá trình hội nhập khu vực.

Tiếp nối đà mở rộng quan hệ, Đại hội VIII (1996) đã pháp điển hóa đường lối đối ngoại độc lập tự chủ: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”và lần đầu tiên đưa khái niệm "hội nhập" vào văn kiện Đảng với trọng tâm là hội nhập kinh tế. Đảng đã giải quyết thành công mối quan hệ biện chứng giữa việc giữ vững độc lập, bản sắc dân tộc với việc chủ động tham gia vào các liên kết khu vực và thế giới. Sự kế thừa này không chỉ giúp củng cố môi trường hòa bình mà còn giúp nước ta thúc đẩy “Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, thông qua thương lượng”, từ đó mở rộng và củng cố quan hệ với các nước láng giềng, ASEAN, các nước bạn bè truyền thống và các trung tâm kinh tế - chính trị lớn trên thế giới.

Đến Đại hội IX (2001), tư duy đối ngoại đã đạt đến độ chín muồi về mặt chiến lược khi chuyển từ phương châm "muốn là bạn" sang “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Đặc biệt, bước đột phá về lý luận trong giai đoạn này là sự ra đời của Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX (2003) với cách nhìn biện chứng về "đối tác" và "đối tượng". Việc phân định dựa trên hành vi cụ thể thay vì bản chất chế độ đã giúp gỡ bỏ các rào cản tư tưởng cuối cùng, cho phép Việt Nam vừa hợp tác tranh thủ lợi ích, vừa kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia trong một thế giới biến động phức tạp.

Đại hội X (2006) và Đại hội XI (2011) đánh dấu sự kế thừa để chuyển từ mở rộng diện quan hệ sang đưa các quan hệ quốc tế đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững. Đại hội XI đã ghi dấu mốc lịch sử khi lần đầu tiên xác định mục tiêu tối cao của đối ngoại là "vì lợi ích quốc gia - dân tộc" và quyết định bước chuyển về chất khi Đảng quyết định từ “hội nhập kinh tế” sang “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” một cách toàn diện. Hội nhập không còn chỉ là câu chuyện thương mại mà mở rộng ra tất cả các lĩnh vực: chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội. Tư duy này khẳng định Việt Nam không chỉ là thành viên tham gia mà còn là "thành viên có trách nhiệm", sẵn sàng chia sẻ gánh nặng chung của cộng đồng quốc tế.

Trên nền tảng hội nhập toàn diện, Đại hội XII (2016) chủ trương“chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” và nâng tầm đối ngoại đa phương từ trạng thái "tham dự" sang "chủ động đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương" nhằm không chỉ mở rộng không gian quan hệ, mà còn để gia tăng khả năng tác động, bảo vệ lợi ích quốc gia trong môi trường quốc tế đa tầng nấc. Đảng tiếp tục khẳng định nguyên tắc bảo đảm lợi ích quốc gia trên cơ sở luật pháp quốc tế và lần đầu tiên đưa phương châm "kiên quyết, kiên trì" vào văn kiện để xử lý các tranh chấp chủ quyền. Sự kế thừa này giúp Việt Nam phát huy vai trò tại các tổ chức quốc tế lớn như Hội đồng Bảo an LHQ và ASEAN, đồng thời thúc đẩy các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA.

Đại hội XIII (2021) đã đưa nội dung cốt lõi xây dựng nền "ngoại giao toàn diện, hiện đại" với "ba trụ cột" (Đối ngoại Đảng, Ngoại giao Nhà nước, Đối ngoại Nhân dân) và xác định "vai trò tiên phong" của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định vào văn kiện Đại hội. Đảng xác định rõ "vai trò tiên phong" của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động nguồn lực bên ngoài cho phát triển và nâng cao uy tín đất nước. Việc chính thức hóa ba trụ cột đối ngoại trong văn kiện đại hội đã tạo ra sức mạnh tổng hợp, giúp Việt Nam ứng phó linh hoạt với các thách thức phi truyền thống như đại dịch COVID-19 và cạnh tranh địa chính trị gay gắt, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và nâng cao vai trò, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước.

Các đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, diễn ra từ ngày 19-23/1.

Tại Đại hội XIV (2026), tư duy đối ngoại Đảng tiếp tục có bước phát triển vượt bậc khi xác định đối ngoại và hội nhập quốc tế cùng với quốc phòng và an ninh là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên" trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu tự chủ chiến lược và tự cường để hội nhập sâu rộng mà không lệ thuộc, đưa đối ngoại ngày càng “chuyên nghiệp” và “toàn diện” để tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế mới của đất nước. Trạng thái đối ngoại chuyển mạnh từ "tham gia" sang "kiến tạo", sẵn sàng đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt tại các thể chế đa phương. Đảng xác định đa dạng hóa hình thức ngoại giao như ngoại giao nguyên thủ, ngoại giao chuyên ngành, trọng tâm là ngoại giao kinh tế, khoa học công nghệ để kiến tạo động lực tăng trưởng mới cho dân tộc. Đồng thời, sự phối hợp đồng bộ giữa các trụ cột, binh chủng, lực lượng làm công tác đối ngoại giúp chủ động nhận diện và hóa giải mọi thách thức "từ sớm, từ xa", bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia trong môi trường quốc tế biến động. Mọi hoạt động đối ngoại đều đặt người dân và doanh nghiệp ở vị trí trung tâm, lấy hiệu quả phục vụ các chủ thể này làm thước đo giá trị cao nhất.

Các văn kiện kể trên là sự kế thừa trọn vẹn thành tựu lí luận và thực tiễn của 40 năm Đổi mới, khẳng định đối ngoại là động lực quan trọng để đưa dân tộc vươn mình vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên phát triển hùng cường và thịnh vượng. Bên cạnh đó, Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (5/1988), Nghị quyết chuyên đề về đối ngoại của Hội nghị Trung ương 3, khóa VII (tháng 6/1992), Nghị quyết Trung ương 8, khóa IX (7/2003) về chiến lược bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết Bộ Chính trị số 36, khóa IX (3/2004) về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị (4/2013) về Hội nhập quốc tế, Chỉ thị 25 của Ban Bí thư, Khóa XII (8/2018) về đẩy mạnh, nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030, Nghị quyết số 34-NQ/TW, (1/2023) của Bộ Chính trị về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị (1/2025) về hội nhập quốc tế trong tình hình mới… đã đánh dấu những phát triển quan trọng và khẳng định nội dung cốt lõi xuyên suốt trong đường lối, chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ Đổi mới. Đó là giữ vững độc lập, tự chủ; kiên trì đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Ba chủ trương này có tính ổn định lâu dài, được phát triển linh hoạt, sáng tạo qua từng kỳ Đại hội, phù hợp với tình hình quốc tế và trong nước.

Hành trình 40 năm đổi mới tư duy đối ngoại đã đưa Việt Nam từ một quốc gia bị bao vây, cấm vận trở thành một hình mẫu về hội nhập và phát triển, sở hữu vị thế quốc tế chưa từng có trong lịch sử. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, xây dựng mạng lưới đối tác chiến lược và toàn diện với 42 nước, trong đó có toàn bộ 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các cường quốc hàng đầu thế giới. Thành tựu đối ngoại đã đóng vai trò là nguồn lực trực tiếp cho phát triển kinh tế, đưa Việt Nam vào top 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và top 20 quốc gia có quy mô thương mại hàng đầu, thu hút hơn 500 tỷ USD vốn FDI thông qua mạng lưới 17 hiệp định thương mại tự do (FTA). Không chỉ giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và bảo đảm nguồn lực cho đối ngoại tương xứng với thế và lực mới của đất nước để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, đối ngoại Việt Nam còn vươn tầm đóng góp trách nhiệm cho quản trị toàn cầu khi hai lần đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an và các trọng trách tại Hội đồng Nhân quyền, ASEAN, APEC. Những kết quả này chính là minh chứng sống động cho đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, tranh thủ ngoại lực, củng cố nội lực, góp phần bảo vệ và phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Sđd, tr. 147

[2] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 55, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tr. 334

[3] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 41 – 42

[4] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 119

[5] Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới Phần II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 123

Đào Thị Mai Anh – Vũ Hà Phương Anh

TIN LIÊN QUAN

































Home Icon VỀ TRANG CHỦ