Đáp án chấm Ngữ văn: Chưa 'chuẩn' rubric, thí sinh xuất sắc có thể mất điểm
PGS.TS Bùi Mạnh Hùng, Tổng chủ biên SGK Ngữ văn, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống đánh giá, đề thi môn Ngữ văn thi tốt nghiệp THPT tuy có một số bất hợp lí, nhưng có nhiều đổi mới rất đáng ghi nhận. Chúng ta có niềm tin việc đổi mới đề thi tốt nghiệp năm 2026 sẽ đặt cơ sở cho việc triển khai hoạt động dạy học và đánh giá ngày càng đúng với định hướng của chương trình giáo dục phổ thông 2018.
Tuy nhiên, ngay sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố đáp án (bao gồm cả hướng dẫn chấm và rubric, gọi chung là “đáp án”) chấm phần viết, “lộ trình đổi mới” có vẻ chững lại.
Một mặt, Bộ Giáo dục và Đào tạo tuyên bố chấm bài thi của thí sinh theo tinh thần đáp án mở, tôn trọng ý kiến, quan điểm mà thí sinh trình bày nếu các em bảo vệ được quan điểm đó, thậm chí phản biện lại nội dung đề yêu cầu; mặt khác lại xây dựng một đáp án chấm thi theo cách thiên về “truyền thống”.
“Cái rubric kèm theo không đảm bảo chấm bài theo hướng mở như thông báo của Bộ. Nói cách khác, đây chưa phải là cách chấm bài thi theo rubric như nhiều người vẫn hiểu”, ông Hùng cho hay.

PGS.TS Bùi Mạnh Hùng, Tổng chủ biên SGK Ngữ văn, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống. Ảnh: NVCC.
Đáp án phần đọc hiểu: bước đi đúng hướng
Theo PGS.TS Bùi Mạnh Hùng, đáp án chấm phần đọc hiểu khá tốt. Câu 1, câu 2, câu 3 có các mức: đúng hoàn toàn, đúng một phần, sai. Việc phân chia các mức độ như vậy là phù hợp với đánh giá phần đọc hiểu. Câu 4 cho phép “thí sinh có thể nêu luận điểm theo cách khác, miễn là phù hợp với nội dung văn bản, bảo đảm tính logic, chặt chẽ”, đáp án cũng viết theo cách mở: “sau đây là gợi ý”. Có thể coi đây là “điểm sáng”, đúng với tinh thần đáp án mở.
Tuy nhiên, có một điểm đáng chú ý, đáp án câu 4 xác định luận đề: “Công nghệ in ấn là nhân tố quyết định vận mệnh của các quốc gia”. Bám theo văn bản, việc xác định luận đề này không phải là không có cơ sở. Tuy vậy, thí sinh có thể xác định luận đề theo hướng khác, chẳng hạn: “Sự nhân bản và phổ biến tri thức nhờ công nghệ in ấn đã làm thay đổi tiến trình phát triển của các quốc gia”; “Công nghệ nhân bản tri thức có khả năng làm thay đổi vận mệnh của các quốc gia”; hoặc: “Sự phổ biến của tri thức là động lực phát triển văn minh”…
Vì vậy, đáp án câu 4 cần mở hơn nữa, chẳng hạn, có thể gợi ý: Luận đề của văn bản có thể được xác định theo nhiều cách khác nhau, miễn là thể hiện được tư tưởng trung tâm của văn bản: công nghệ in ấn đã phá vỡ sự độc quyền tri thức, tạo điều kiện cho tri thức được nhân bản và lan truyền rộng rãi, từ đó tác động sâu sắc đến sự phát triển văn hóa, khoa học và vận mệnh của các quốc gia. Sau đó, đáp án nêu những cách diễn đạt có thể chấp nhận như ở trên, có thể thêm cả dấu ba chấm.
Đáp án câu 5 cho phép những diễn đạt tương đương, đáp án cũng có độ mở tối thiểu để giám khảo có thể chấm bài một cách linh hoạt. Tuy đáp án câu này có chỗ vẫn còn tư duy phân mảnh, cụ thể là quy định trả lời ý 1: 0,25, ý 2: 0,75, ý 3: 0,25, khiến giám khảo có thể đếm ý cho điểm thay cho đánh giá chất lượng câu trả lời, .
Đáp án phần viết: thí sinh xuất sắc có thể bị mất điểm
Rubric đoạn văn gồm: Nội dung kiến thức (1,25 điểm), Kĩ năng phân tích và lập luận (0,5 điểm), Hình thức và ngôn ngữ (0,25 điểm). Đây là cấu trúc hợp lí, tiến bộ. Tuy nhiên, phần giải pháp được quy thành 6 ý nhỏ: ý 1.1, ý 1.2, ý 1.3, ý 2.1, ý 2.2, ý 2.3. Có thể thấy, rubric này đang pha trộn giữa rubric và đáp án chi tiết.
“Một rubric đúng nghĩa đáng lẽ phải đánh giá: tính phù hợp, chiều sâu, tính thuyết phục; chứ không xem học sinh có nhắc tới giáo dục hoặc chính sách hay không”, ông Hùng phân tích.
Theo PGS Hùng, rubric bài nghị luận văn học là phần đáng bàn nhất. Về mặt tích cực, tương tự rubric chấm đoạn văn, ở đây, rubric đã cố gắng chia thành Nội dung kiến thức (2,5 điểm), Kĩ năng phân tích và lập luận (0,75 điểm), Hình thức và ngôn ngữ (0,75 điểm).
Nhưng vấn đề bất cập lớn là rubric vẫn bám rất chặt vào một đáp án quy định chi tiết các ý, cụ thể: b2.1 quy định nhận diện được thể thơ, đề tài, chủ thể trữ tình, bố cục, mạch cảm xúc, gồm 4 ý; b2.2. phân tích được tâm trạng, cảm xúc của những chiếc lá, gồm 11 ý; b2.3 đánh giá được những đặc sắc nghệ thuật và nội dung, gồm 4 ý; b.2.4. liên hệ, mở rộng gồm 2 ý. Tổng cộng có 21 ý (trong đó có một số ý còn triển khai chi tiết hơn).
Như vậy, gọi là chấm thi theo rubric, nhưng thực chất là đang đánh giá học sinh có viết đủ các ý mà người lập đáp án đã dự kiến hay không. Thí sinh phải viết một bài văn đủ 21 ý trong vòng khoảng 50 – 60 phút. Giám khảo phải đếm chừng đấy ý để cho điểm. Các yêu cầu của đáp án đặt ra thách thức không nhỏ cho cả thí sinh lẫn giám khảo trong quá trình làm bài và chấm bài.
Điều đáng lo hơn, theo ông Hùng, những thí sinh xuất sắc có thể bị điểm thấp vì cái gọi là “rubric” này. Chẳng hạn, có học sinh phân tích rất hay và sâu sắc hình tượng lá như biểu tượng của sự chuyển hóa vật chất, cái chết không phải kết thúc, triết lý tái sinh của sự sống. Nhưng không nói quy luật vòng đời hoặc cống hiến làm nên ý nghĩa tồn tại.
“Theo rubric hiện tại, thí sinh đó có nguy cơ mất điểm. Trong khi bài đó có thể rất xuất sắc, vượt trội hơn so với nhiều bài thi viết đủ ý như rubric quy định”, ông Hùng phân tích.
Cách chấm theo rubric cần hướng tới: Bài viết tốt đến mức nào?
Một rubric đúng nghĩa, theo PGS Hùng, phải là công cụ đánh giá chất lượng thực hiện nhiệm vụ. Nói cách khác, rubric không trả lời câu hỏi: “Thí sinh phải viết những ý gì?” mà trả lời: “Bài viết tốt đến mức nào?”.
Cụ thể, đối với phần viết đoạn văn nghị luận xã hội, đáp án chỉ nên viết: Thí sinh có thể đề xuất nhiều giải pháp khác nhau nhằm hình thành đội ngũ các nhà đổi mới sáng tạo, doanh nhân công nghệ người Việt Nam có tầm ảnh hưởng lớn. Các giải pháp có thể xuất phát từ cá nhân, giáo dục, gia đình, xã hội, chính sách nhà nước hoặc môi trường đổi mới sáng tạo. Chấp nhận những cách triển khai khác nhau nếu phù hợp, có lí lẽ và bằng chứng thuyết phục.
– Rubric để chấm đoạn văn có thể gồm các tiêu chí:
+ Tiêu chí 1. Hiểu vấn đề (0,5). Mức 0,5: Xác định đúng yêu cầu nghị luận. Mức 0,25: Hiểu một phần. Mức 0: Lạc đề.
+ Tiêu chí 2. Lập luận và phát triển ý (1,0). Mức 1,0: Quan điểm rõ, lí lẽ và dẫn chứng hợp lí, triển khai thuyết phục. Mức 0,75: Có lập luận nhưng còn đơn giản. Mức 0,5: Ý rời rạc. Mức 0,25: Rất sơ sài. Mức 0: Không có lập luận.
+Tiêu chí 3. Ngôn ngữ (0,25): Không hoặc rất ít lỗi chính tả và lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu, liên kết đoạn văn).
+ Tiêu chí 4. Sáng tạo (0,25): Góc nhìn mới, lập luận độc đáo.
Đối với phần viết bài nghị luận văn học, đây là phần cần thay đổi mạnh nhất. Đáp án không nên nêu các ý nhỏ như hiện nay mà chỉ nên gợi ý những hướng tiếp cận có thể chấp nhận. Chẳng hạn, về nội dung, thí sinh có thể tập trung vào phân tích hình tượng những chiếc lá, phân tích mạch cảm xúc, phân tích quan hệ giữa chiếc lá và chú bé, phân tích triết lí nhân sinh, phân tích giá trị biểu tượng,…. Về nghệ thuật, cũng không nên quay lại lối liệt kê cho đủ các biện pháp nghệ thuật rồi ngầm yêu cầu học sinh phải phân tích đủ các yếu tố đó.
Thí sinh có thể lựa chọn và phân tích một hoặc một số phương diện sau: cấu tứ và tổ chức mạch cảm xúc của bài thơ; nghệ thuật xây dựng hình tượng thơ (hình tượng những chiếc lá, hình tượng chú bé); giá trị biểu tượng của hình ảnh thơ; nghệ thuật lựa chọn điểm nhìn và chủ thể trữ tình; ngôn ngữ thơ (từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, âm thanh); giọng điệu và sắc thái cảm xúc của bài thơ; sự kết hợp giữa yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm và triết lí; mối quan hệ giữa hình thức nghệ thuật và nội dung;….
Các ý như trong đáp án hiện nay có thể được chắt lọc cho thật tinh gọn để sử dụng trong phần định hướng chung của rubric nhưng chỉ trình bày như những yếu tố, chi tiết của bài thơ mà thí sinh có thể lựa chọn để khai thác, chứ không phải yêu cầu bài viết của thí sinh phải hội đủ thì mới được điểm tối đa.
Chẳng hạn, một học sinh không nhắc đến nhiều các biện pháp nghệ thuật nhưng lại chỉ ra được việc để những chiếc lá tự kể câu chuyện đời mình bằng đại từ “chúng ta” khiến chiếc lá không còn là một vật vô tri mà trở thành một chủ thể có ý thức, từ đó giúp nhà thơ gửi gắm suy ngẫm về đời người một cách tự nhiên và cảm động. Những phân tích tinh tế như vậy thể hiện được đúng năng lực phân tích văn học thực sự, chứ không phải viết cho đủ ý theo hình dung của người làm đáp án.
Trong thực tế đọc hiểu và cảm thụ văn học, không phải những bài viết tốt nào cũng đi theo cùng một con đường. Thậm chí có một thực tế, một bài văn xuất sắc thường không giống với bất kì một bài văn xuất sắc nào khác. Vì vậy, đáp án cần chấp nhận những cách cảm nhận hợp lí và có căn cứ trong văn bản.
Đó là điểm khác biệt quan trọng nhất giữa chấm bài viết theo rubric với chấm bài viết theo cách đếm ý cho điểm.
– Rubric mới để chấm bài nghị luận văn học có thể có các tiêu chí sau:
+ Tiêu chí 1. Hiểu văn bản (1,0). Mức 1,0: Hiểu đúng nội dung cốt lõi. Xác định được trọng tâm bài thơ. Mức 0,75: Hiểu cơ bản. Mức 0,5: Hiểu phiến diện. Mức 0: Hiểu sai.
+ Tiêu chí 2. Phân tích và diễn giải (1,5). Đây phải là tiêu chí chiếm trọng số điểm lớn nhất. Mức 1,5: Lựa chọn được yếu tố, chi tiết tiêu biểu, phân tích sâu; chỉ ra được ý nghĩa của hình ảnh, ngôn ngữ, cấu tứ,…. Mức 1,0: Có phân tích nhưng còn thiên về kể lại. Mức 0,5: Chủ yếu mô tả. Mức 0: Không phân tích.
+ Tiêu chí 3. Đánh giá và kết nối (0,75). Mức 0,75: Có nhận xét, đánh giá; có khả năng khái quát; có liên hệ hợp lí. Mức 0,5: Có nhưng còn đơn giản. Mức 0: Không có.
+ Tiêu chí 4. Tổ chức bài viết và lập luận (0,5). Đánh giá: bố cục; mạch lập luận; tính liên kết. Mức 0,5: Bố cục rõ, lập luận mạch lạc. Mức 0,25: Còn rời rạc. Mức 0: Thiếu tổ chức.
+ Tiêu chí 5. Ngôn ngữ (0,25). Mức 0,25: không hoặc rất ít lỗi chính tả và lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu, liên kết đoạn văn). Mức 0: nhiều lỗi chính tả, lỗi diễn đạt. Điểm cho tiêu chí 5 có thể tăng lên 0,5 vì đoạn văn 2,0 điểm cũng đã có 0,25 cho tiêu chí về ngôn ngữ.
Như vậy, một rubric chấm bài văn nghị luận văn học chỉ cần 4 – 5 tiêu chí. Giám khảo đánh giá chất lượng lựa chọn và phân tích đó, chứ không kiểm tra xem học sinh có trình bày đủ các ý mà người làm đáp án dự kiến hay không.
Một rubric tốt cần đạt được sự cân bằng giữa tính rõ ràng, khả năng sử dụng và tinh thần đánh giá năng lực của người học.
Có thể có ý kiến lo ngại rằng cách chấm này sẽ làm xuất hiện những bài viết với các cách hiểu hoặc ý kiến phản biện vượt ra ngoài những gì người làm đáp án dự kiến. Tuy nhiên, đó chính là đặc trưng của đánh giá năng lực.
"Nếu đáp án được xây dựng theo hướng mở và giám khảo được tập huấn đầy đủ về các tiêu chí đánh giá, những trường hợp như vậy không phải là rủi ro mà là cơ hội để ghi nhận những biểu hiện sáng tạo và tư duy độc lập của học sinh", ông Hùng cho hay.
PGS.TS Bùi Mạnh Hùng chia sẻ với Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ban đề thi những khó khăn trong việc triển khai chấm bài theo rubric đúng nghĩa trong điều kiện Việt Nam hiện nay. Rào cản lớn nhất không nằm ở kĩ thuật xây dựng rubric mà ở quá trình tổ chức thực hiện. Thi tốt nghiệp trung học phổ thông là một kì thi quy mô rất lớn với hàng triệu bài thi cần được chấm trong thời gian ngắn. Bên cạnh đó, nhiều giám khảo đã quen với cách chấm theo đáp án chi tiết trong nhiều năm nên việc chuyển sang đánh giá năng lực theo các tiêu chí của rubric đòi hỏi một sự thay đổi đáng kể về nhận thức, kĩ năng và thói quen.
Nếu chúng ta muốn đi tiếp con đường đánh giá năng lực mà chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 đã lựa chọn, thì trong những năm tới phần cần đổi mới không chỉ đề thi mà cả cách xây dựng đáp án, đặc biệt là rubric cho phần viết.
Mai Loan
6 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
1 giờ trước
37 phút trước
7 phút trước
28 phút trước
52 phút trước
57 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước