🔍
Chuyên mục: Thời sự

Đánh giá tự do tôn giáo ở Việt Nam không thể qua lăng kính phiến diện

1 giờ trước
Theo chuyên gia, tự do tôn giáo không thể được đánh giá từ vài lát cắt đơn lẻ, thiếu bối cảnh lịch sử, văn hóa và thực tiễn đời sống tín ngưỡng tại Việt Nam.
00:00
00:00

Trong Báo cáo thường niên về tình hình tự do tôn giáo quốc tế mới đây, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) tiếp tục đưa ra những đánh giá tiêu cực về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam, đồng thời khuyến nghị đưa Việt Nam vào danh sách cần quan tâm đặc biệt.

Đây không phải lần đầu USCIRF đưa ra các nhận định gây tranh cãi liên quan đến Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở nội dung báo cáo, mà còn ở phương pháp tiếp cận, cách thu thập dữ liệu và việc thiếu đặt đánh giá trong bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội cụ thể.

Hàng chục nghìn tín đồ đạo Cao Đài cùng du khách tề tựu về Tòa Thánh Tây Ninh tham dự kỷ niệm 100 năm ngày hoằng khai Đại đạo Tam kỳ Phổ độ.

Góc nhìn phiến diện

Trả lời PV Báo Điện tử VTC News, TS Nguyễn Văn Chung, Trưởng phòng Nghiên cứu Phật giáo thuộc Viện Dân tộc học và Tôn giáo học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng, muốn nhìn nhận khách quan các báo cáo về tự do tôn giáo cần phân tích đầy đủ cơ chế hình thành báo cáo, nguồn dữ liệu sử dụng cũng như thực tiễn đời sống tôn giáo tại từng quốc gia.

Theo ông, từ sau Chiến tranh Lạnh, các vấn đề quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo, ngày càng được nhiều quốc gia sử dụng như một công cụ trong chính sách đối ngoại và thúc đẩy ảnh hưởng quốc tế thông qua “quyền lực mềm”.

USCIRF là cơ quan tham vấn độc lập, lưỡng đảng do Quốc hội Mỹ thành lập năm 1998 theo Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế (IRFA). Cơ quan này có chức năng theo dõi, xây dựng báo cáo thường niên và đưa ra khuyến nghị đối với Tổng thống, Quốc hội và Bộ Ngoại giao Mỹ liên quan đến tình hình tự do tôn giáo ở một số quốc gia trên thế giới.

Theo cơ chế của Đạo luật IRFA, USCIRF có thể đề xuất đưa một số quốc gia vào danh sách “Các quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC), “Danh sách theo dõi đặc biệt” (SWL) hoặc “Các thực thể cần quan tâm đặc biệt” (EPC) để Bộ Ngoại giao Mỹ xem xét trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại.

TS Nguyễn Văn Chung cho biết USCIRF chủ yếu có vai trò thu thập thông tin, xây dựng báo cáo và đưa ra khuyến nghị, còn quyết định đánh giá chính thức hay xếp hạng quốc gia thuộc thẩm quyền của Bộ Ngoại giao và Chính phủ Mỹ.

Tuy nhiên, theo ông, điều gây nhiều tranh luận hiện nay nằm ở phương thức thu thập và xử lý dữ liệu trong các báo cáo đánh giá. “Trong nhiều trường hợp, các thông tin, căn cứ được nêu trong báo cáo rất khó kiểm chứng trong thực tiễn, khó truy xuất nguồn gốc hoặc tính tin cậy của nguồn thông tin”, ông Chung nhận xét.

Nếu chỉ tập trung vào một số vụ việc đơn lẻ về tôn giáo để quy kết cho cả một quốc gia thì rất dễ dẫn tới đánh giá phiến diện, thiếu tính khoa học.

TS Hoàng Văn Chung

Là người từng trực tiếp làm việc với USCIRF và Văn phòng Tự do Tôn giáo Quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ để trao đổi về phương pháp xây dựng báo cáo thường niên, TS Nguyễn Văn Chung cho biết ông nhiều lần đặt vấn đề vì sao nhiều nguồn thông tin chính thống liên quan đến chính sách, pháp luật và thực tiễn đời sống tôn giáo tại Việt Nam chưa được phản ánh đầy đủ trong các báo cáo đánh giá.

Khi được hỏi về nguồn dữ liệu sử dụng trong báo cáo, họ cho biết thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và có cách tiếp cận riêng trong quá trình xử lý dữ liệu”, ông Chung nói.

Theo phản hồi từ phía USCIRF, các báo cáo của họ chủ yếu tập trung vào những nội dung mà họ cho rằng còn tồn tại hoặc chưa được giải quyết triệt để trong việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo.

Theo TS Nguyễn Văn Chung, hạn chế lớn của cách tiếp cận này là nguy cơ lấy hiện tượng cá biệt để quy kết cho toàn bộ bức tranh đời sống tôn giáo của một quốc gia. “Nếu chỉ tập trung vào một số vụ việc đơn lẻ về tôn giáo để quy kết cho cả một quốc gia thì rất dễ dẫn tới đánh giá phiến diện, thiếu tính khoa học”, ông nhấn mạnh.

TS Chung cho rằng việc đánh giá đời sống tôn giáo cần được đặt trong bối cảnh lịch sử, văn hóa, đặc điểm xã hội và hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Ngay trong giới học thuật quốc tế cũng tồn tại nhiều tranh luận về việc sử dụng cùng một hệ tiêu chí hay chuẩn mực để áp dụng cho mọi quốc gia trong vấn đề tự do tôn giáo.

Ông dẫn ví dụ tại một số quốc gia Hồi giáo, việc phụ nữ mặc trang phục kín hoặc che mặt nơi công cộng được xem là thực hành tôn giáo gắn với truyền thống văn hóa. Tuy nhiên, từ một hệ quy chiếu khác, có thể xuất hiện quan điểm cho rằng đây là sự hạn chế tự do cá nhân.

Chính sự khác biệt về văn hóa, lịch sử và quan niệm xã hội khiến cách nhìn nhận vấn đề giữa các quốc gia không hoàn toàn giống nhau”, TS Chung phân tích.

Vị chuyên gia về tôn giáo khẳng định, trong quá trình quản lý xã hội, ở bất kỳ quốc gia nào cũng có thể xuất hiện những vụ việc riêng lẻ liên quan đến tôn giáo cần tiếp tục hoàn thiện trong xử lý và thực thi chính sách. Tuy nhiên, việc sử dụng các hiện tượng cá biệt để đánh giá toàn bộ bức tranh tự do tôn giáo của một quốc gia là cách tiếp cận thiếu toàn diện.

Hàng vạn người dân và phật tử đổ về khu vực quanh hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội) để chiêm bái xá lợi Đức Phật - bảo vật quốc gia Ấn Độ - lần đầu tiên được cung rước đến Việt Nam, nhân dịp Đại lễ Vesak Liên hợp quốc 2025, hồi tháng 5/2025.

Chủ động đối thoại và tăng cường tiếng nói học thuật

Từ thực tế tại Việt Nam, TS Nguyễn Văn Chung cho rằng đời sống tôn giáo đang có nhiều chuyển biến tích cực cùng với quá trình đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Nhờ sự đổi mới về chính sách, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và chiều sâu. Trước năm 1990, nước ta chỉ có 3 tổ chức tôn giáo được công nhận thì đến nay, Nhà nước đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo; với khoảng trên 27,7 triệu tín đồ (chiếm khoảng 27% dân số), trên 61.000 chức sắc, gần 145.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự.

Infographic được tạo bởi AI.

Các hoạt động tín ngưỡng như thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu, thờ Thành hoàng làng... được tôn trọng và phát huy. Nhiều lễ hội tín ngưỡng được phục dựng và được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và quốc tế, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.

Các tôn giáo, chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đã và đang khẳng định vai trò tích cực, đồng hành cùng dân tộc và đóng góp nguồn lực trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Đời sống tôn giáo tại Việt Nam không chỉ tồn tại ổn định mà còn vận động theo hướng ngày càng đa dạng và hội nhập.

TS Nguyễn Văn Chung

Theo ông, những con số này không chỉ phản ánh quy mô, mà còn cho thấy tính ổn định và đa dạng của đời sống tôn giáo trong thực tiễn.

Đáng chú ý, Việt Nam cũng là điểm đến của nhiều sự kiện tôn giáo quốc tế lớn, tiêu biểu như Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc, thu hút sự tham gia của đông đảo chức sắc, tín đồ và đại biểu quốc tế. Cùng với đó, các hoạt động đào tạo chức sắc, xuất bản kinh sách, xây dựng cơ sở thờ tự và các chương trình từ thiện, an sinh xã hội do các tổ chức tôn giáo thực hiện tiếp tục được mở rộng.

TS Chung nêu rõ, những thực tiễn này cho thấy đời sống tôn giáo tại Việt Nam không chỉ tồn tại ổn định mà còn vận động theo hướng ngày càng đa dạng và hội nhập. Vì vậy, việc đánh giá quyền tự do tôn giáo cần dựa trên bức tranh tổng thể, thay vì chỉ nhìn vào một số hiện tượng riêng lẻ.

Trong bối cảnh các cơ chế báo cáo quốc tế về tự do tôn giáo vẫn tiếp tục được duy trì, TS Nguyễn Văn Chung cho rằng Việt Nam cần chủ động hơn trong đối thoại, trao đổi thông tin và phản hồi bằng các luận cứ khoa học, minh bạch, dựa trên thực tiễn.

Theo ông, trước những đánh giá chưa đầy đủ hoặc thiếu khách quan, Việt Nam cần kiên trì cung cấp dữ liệu, tăng cường đối thoại và phản biện bằng các thông tin có cơ sở. “Nội dung phù hợp với các tiêu chuẩn tiến bộ, phổ quát thì chúng ta tiếp tục hoàn thiện để nâng cao hơn nữa việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”, ông nói.

Infographic được tạo bởi AI.

Ông Chung cũng kiến nghị một trong những giải pháp quan trọng hiện nay là đẩy mạnh cung cấp thông tin chính thống cho các tổ chức quốc tế, cơ quan nghiên cứu và cơ quan ngoại giao nước ngoài liên quan đến lĩnh vực tôn giáo.

Bên cạnh kênh ngoại giao chính thức, ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của giới nghiên cứu và học thuật trong việc thu hẹp khoảng cách nhận thức về tình hình tôn giáo tại Việt Nam.

Theo đó, các nghiên cứu về tôn giáo của Việt Nam cần được đầu tư bài bản hơn, hướng tới công bố quốc tế bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Đồng thời, các nhà nghiên cứu và chuyên gia cũng cần được tạo điều kiện tham gia các diễn đàn, hội thảo và hoạt động trao đổi học thuật quốc tế để trực tiếp chia sẻ góc nhìn từ thực tiễn Việt Nam.

Ông lưu ý rằng nếu thiếu tiếng nói học thuật đủ mạnh trên các diễn đàn quốc tế thì nhiều đánh giá về Việt Nam rất dễ bị chi phối bởi những nguồn thông tin phiến diện hoặc thiếu kiểm chứng.

Đồng thời, TS Chung cho rằng cần mở rộng hoạt động truyền thông đối ngoại theo hướng đa ngôn ngữ, đồng thời lựa chọn đúng đối tượng và phương thức tiếp cận phù hợp để cộng đồng quốc tế có cái nhìn toàn diện hơn về thực tiễn đời sống tôn giáo tại Việt Nam. “Muốn người ta hiểu đúng thì mình phải truyền thông đúng đối tượng và đúng cách tiếp cận”, ông nói.

Ngoài kênh ngoại giao chính thức, các chức sắc, tín đồ, tổ chức tôn giáo và cộng đồng người Việt Nam tham gia giao lưu quốc tế cũng được xem là những “kênh truyền thông” hiệu quả để giới thiệu thực tiễn tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam tới bạn bè quốc tế.

Các chức sắc, tín đồ hay tổ chức tôn giáo khi tham gia giao lưu quốc tế đều có thể góp phần giúp bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về đời sống tôn giáo ở Việt Nam”, TS Nguyễn Văn Chung nói thêm.

Anh Văn

TIN LIÊN QUAN















Home Icon VỀ TRANG CHỦ