Đại biểu Quốc hội lo lắng khi hệ số sử dụng vốn đầu tư ở mức cao

Nghịch lý dòng vốn: Tín dụng phình to, sản xuất vẫn "khát"
Bước vào giai đoạn phát triển mới, nền kinh tế Việt Nam đang đối mặt với một nghịch lý kép về dòng vốn. Đại biểu Nguyễn Như So (Bắc Ninh) chỉ ra thực trạng đáng lo ngại: Tỷ lệ tín dụng trên GDP đã lên tới 146%, nhưng nền kinh tế vẫn thiếu hụt trầm trọng vốn trung và dài hạn. Việc hệ thống ngân hàng phải "lấy ngắn nuôi dài" không chỉ tạo áp lực lớn lên thanh khoản mà còn khiến dòng vốn không chảy vào khu vực tạo giá trị gia tăng cao.
Sự "lệch pha" này càng trở nên báo động khi nhìn vào cơ cấu phân bổ tín dụng. Cung cấp những số liệu mang tính cảnh tỉnh, đại biểu Lê Hoàng Anh (Gia Lai) cho biết dư nợ tín dụng bất động sản đã tăng 132% trong 4 năm (2021-2025), vọt lên mức 4.541.000 tỷ đồng, tức là gấp 2,4 lần tốc độ tăng trưởng của tín dụng công nghiệp. Đặc biệt, riêng trong giai đoạn 2024-2025, tín dụng bất động sản tăng đột biến 37,6%, trong khi tín dụng công nghiệp chỉ nhích nhẹ 9,4%.
"Việt Nam đang chạy marathon với đôi chân bị trói, vốn bị giam trong tài sản đầu cơ thay vì chảy vào nơi tạo ra giá trị thực", đại biểu Lê Hoàng Anh nhấn mạnh. Để nắn lại dòng tiền, đại biểu đề xuất Ngân hàng Nhà nước cần kiểm soát tín dụng đầu cơ bằng công cụ thị trường, áp dụng dự trữ bắt buộc phân biệt theo lĩnh vực. Đồng thời, cần dùng công cụ thuế (đánh thuế lũy tiến nhà đất thứ hai, phí đất dự án bỏ hoang) để triệt tiêu động cơ đầu cơ, ép dòng vốn quay trở lại hệ thống sản xuất và công nghệ.
Mở "van" thị trường vốn: Giảm tải cho hệ thống ngân hàng
Nếu tỷ lệ tín dụng/GDP tiếp tục neo cao, rủi ro nợ xấu và sức ép lên hệ số an toàn vốn (CAR) của các tổ chức tín dụng là không thể tránh khỏi. Đại biểu Nguyễn Hải Nam (Thừa Thiên Huế) làm phép so sánh: Trong khi tỷ lệ này của Việt Nam là 145%, thì tại các quốc gia trong khu vực như Malaysia hay Thái Lan chỉ ở mức khoảng 110%.
Để có nguồn lực khoảng 200 tỷ USD (tương đương 40% GDP) tài trợ cho tăng trưởng, việc phát triển thị trường vốn (trái phiếu, cổ phiếu) phải được coi là đòn bẩy chiến lược. Đại biểu Nguyễn Hải Nam đề xuất khẩn trương hoàn thiện hành lang pháp lý (Nghị định 153, 65, 08) theo nguyên tắc không "quản lý quá chặt hoặc quá lỏng" nhằm khơi thông kênh dẫn vốn sống còn này. Đặc biệt, cần sớm thành lập các Quỹ đầu tư quốc gia chuyên nghiệp – mô hình đã thành công tại Trung Quốc (CIC, 1.600 tỷ USD), Singapore (GIC, 940 tỷ USD) hay Indonesia – để chủ động rót vốn vào các ngành công nghệ cao, AI, bán dẫn và năng lượng sạch.
Đồng quan điểm, đại biểu Nguyễn Như So cho rằng chính sách tiền tệ cần chuyển mạnh từ việc nới lỏng tổng lượng sang "dẫn dòng vốn có mục tiêu", gắn tín dụng với các chuẩn mực ESG và chuyển đổi xanh. Việc chứng khoán hóa các khoản vay và phát triển thị trường mua bán nợ minh bạch sẽ giúp giải phóng bảng cân đối kế toán của các ngân hàng, tạo dư địa cho các chu kỳ tín dụng mới.
Kéo giảm ICOR: Mệnh lệnh từ kỷ luật đầu tư công
Một trong những rào cản lớn nhất của nền tảng vĩ mô hiện nay là hiệu quả sử dụng vốn. Chính phủ đặt mục tiêu giảm mạnh hệ số ICOR từ 6,43 (giai đoạn 2021-2025) xuống còn 4,5 - 4,8 trong giai đoạn tới. Theo đại biểu Phan Duy Anh (Đà Nẵng), đây là mức giảm (khoảng 1,6 đến 1,9 điểm) "chưa từng có trong nhiều thập kỷ qua".
Tuy nhiên, ICOR không thể giảm nếu nguồn lực nhà nước vẫn bị phân bổ manh mún. Đại biểu Lê Hoàng Anh thẳng thắn chỉ rõ nguyên nhân khiến ICOR neo cao không phải do thiếu tiền, mà vì "thừa dự án, thiếu kỷ luật, thiếu trách nhiệm giải trình". Việc bơm thêm tiền vào một hệ thống quản trị kém chỉ làm ICOR tiếp tục tăng.
Để giải phẫu căn bệnh này, các đại biểu đề xuất ba nhóm biện pháp cốt lõi: Thứ nhất, cương quyết cắt giảm ít nhất 30% số dự án đầu tư công kém hiệu quả. Thứ hai, bắt buộc thực hiện hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội, đánh giá cam kết đầu ra sau 3 năm hoàn thành dự án như một nghĩa vụ pháp lý. Thứ ba, số hóa toàn bộ vòng đời đồng vốn đầu tư công, thiết lập bảng điều khiển thời gian thực liên thông giữa chủ đầu tư, kho bạc và kiểm toán.
Lắng nghe và giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn thừa nhận tăng trưởng hai con số là mục tiêu "vô cùng thách thức". Lịch sử kinh tế thế giới từ năm 1946 đến nay mới chỉ ghi nhận 13 quốc gia duy trì được mức tăng trưởng này liên tục trên 10 năm để vươn lên thành nước phát triển. Tuy nhiên, bám sát các nghị quyết của Đảng, đây là con đường tất yếu. Định hướng đã rõ, hàng ngũ đã chỉnh tề, vấn đề còn lại là khơi thông các điểm nghẽn thể chế, nắn lại dòng vốn chảy đúng mạch thực cơ thể nền kinh tế để hiện thực hóa khát vọng vươn mình của dân tộc.
Quốc Tuấn
8 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
27 phút trước
1 giờ trước
Vừa xong
1 phút trước
38 phút trước
51 phút trước
52 phút trước
1 giờ trước