Cửa vào Mỹ hẹp dần: Thủy sản Việt giữ thị trường bằng cách nào?
Thị trường Mỹ chưa bao giờ là “miền đất dễ tính” đối với thủy sản Việt Nam. Sau nhiều năm đối mặt với thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp cùng các yêu cầu khắt khe về lao động, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn kỹ thuật, ngành hàng này lại phải vượt thêm một lớp rào cản mới. Cánh cửa vào thị trường Mỹ vì thế hẹp thêm một nấc sau quyết định mới nhất của Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR).
Rào cản nối tiếp rào cản
Sau quyết định cuối cùng của USTR trong các cuộc điều tra theo Mục 301, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản (Vasep) đã cập nhật đánh giá mới nhất về tác động đối với ngành thủy sản. Theo đó, hầu hết mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam không thuộc diện miễn trừ thuế.

Khi cánh cửa vào thị trường Mỹ ngày càng hẹp, nhiều doanh nghiệp thủy sản đẩy mạnh xúc tiến thương mại để mở rộng đầu ra và nâng sức cạnh tranh.
Điều này đồng nghĩa tôm, cá tra, cá ngừ, mực, bạch tuộc, cua, ghẹ và các sản phẩm chế biến sẽ phải chịu thêm 12,5% thuế khi nhập khẩu vào Mỹ. Mức thuế này được cộng với thuế MFN và các nghĩa vụ thuế khác theo từng mã HTSUS.
Quy định này đã chính thức có hiệu lực từ 0 giờ 01 phút ngày 24/7/2026 theo giờ miền Đông Hoa Kỳ. Chỉ những lô hàng đã lên tàu và hoàn tất nhập khẩu trước ngày 28/7 mới được miễn áp dụng thuế bổ sung.
Đáng chú ý, mức thuế mới không tác động đồng đều giữa các quốc gia. Đối với mặt hàng tôm, Việt Nam chịu thuế Mục 301 ở mức 12,5%, trong khi các đối thủ cạnh tranh trực tiếp như Ấn Độ, Ecuador và Indonesia chỉ chịu 10%.
Khoảng chênh lệch 2,5 điểm phần trăm có thể không lớn trên giấy tờ, nhưng trong ngành có biên lợi nhuận ngày càng mỏng, đây là yếu tố đủ để các nhà nhập khẩu cân nhắc chuyển đơn hàng sang nguồn cung khác.
Áp lực càng lớn khi tôm Việt Nam còn có thể phải gánh thêm thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và nhiều chi phí tuân thủ khác.
Ở nhóm cá ngừ, Ecuador tiếp tục có lợi thế khi được miễn thuế Mục 301 đối với bốn dòng sản phẩm gồm cá ngừ vây dài, cá ngừ vây vàng tươi hoặc ướp lạnh, phi lê cá ngừ đông lạnh và một dòng cá ngừ chế biến đóng gói khối lượng lớn.
Theo VASEP, mức thuế bổ sung sẽ làm gia tăng áp lực lên cá tra, cá ngừ và nhiều sản phẩm chế biến. Hệ quả là các nhà nhập khẩu có thể yêu cầu doanh nghiệp (DN) Việt Nam giảm giá, cùng gánh chi phí thuế hoặc chuyển sang nguồn cung khác.
Điều đáng lo không chỉ nằm ở mức thuế 12,5%, mà là DN đang phải gánh ngày càng nhiều lớp chi phí để vào được thị trường Mỹ. Hai cuộc điều tra Mục 301 khác liên quan đến dư thừa năng lực sản xuất và sở hữu trí tuệ vẫn chưa có kết luận cuối cùng. Từ đó có thể thấy môi trường thương mại đối với hàng thủy sản Việt Nam tại Mỹ vẫn còn tiềm ẩn nhiều biến động.
Mỹ không chỉ siết bằng thuế quan. Các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững và minh bạch chuỗi cung ứng đang trở thành rào cản ngày càng lớn với thủy sản Việt.
Nếu trước đây, DN chủ yếu ứng phó với từng rào cản riêng lẻ thì nay phải đối mặt với nhiều công cụ phòng vệ thương mại được áp dụng đồng thời. Vấn đề này khiến chi phí tiếp cận thị trường ngày càng gia tăng. Mỗi lớp rào cản mới đều làm mỏng thêm lợi thế cạnh tranh của thủy sản Việt.
Trong khi các nhà xuất khẩu thủy sản còn đang tính toán tác động của thuế Mục 301, một sức ép lớn hơn tiếp tục xuất hiện. Mới đây, Vasep đã gửi Bộ Công Thương báo cáo đánh giá tác động và kiến nghị đối với Dự luật Khôi phục thị trường nội địa năm 2026 của Hoa Kỳ.
Theo dự luật, tổng hạn ngạch nhập khẩu tôm từ Việt Nam được đề xuất ở mức gần 58.900 tấn mỗi năm, chia thành nhiều hạn ngạch phụ cho từng nhóm sản phẩm. Lượng hàng vượt hạn ngạch sẽ chịu thuế 40% theo trị giá, cộng thêm thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và các loại thuế khác.
Nếu Mục 301 làm tăng chi phí, thì dự luật mới có thể làm thay đổi hoàn toàn khả năng tiếp cận thị trường của một số mặt hàng. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), trung bình mỗi năm có khoảng 5.000-8.000 tấn tôm Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ vượt ngưỡng hạn ngạch dự kiến. Điều này đồng nghĩa lượng hàng trên sẽ phải gánh thêm mức thuế rất lớn nếu dự luật được thông qua.
Giữ thị trường bằng năng lực mới
Đối với cá tra, sức ép còn nghiêm trọng hơn. Dự luật quy định hạn ngạch nhập khẩu phi lê cá da trơn đông lạnh từ Việt Nam là 84.000 tấn mỗi năm. Tuy nhiên, ngay cả lượng hàng nằm trong hạn ngạch cũng phải chịu thuế 50% theo trị giá, trong khi phần vượt hạn ngạch chịu thuế tới 200%.
Các mức thuế này còn được cộng dồn với thuế chống bán phá giá hoặc chống trợ cấp nếu phát sinh. Theo Vasep, phi lê cá tra đông lạnh mã HS 0304.62 hiện chiếm tới 92,8-98,1% kim ngạch xuất khẩu cá tra sang Mỹ giai đoạn 2023-2025.
Với mức thuế 50% ngay trong hạn ngạch, khả năng cạnh tranh thương mại của sản phẩm gần như bị triệt tiêu. Mức thuế 200% ngoài hạn ngạch về thực chất tạo ra rào cản rất lớn đối với hoạt động nhập khẩu.
Nếu thuế Mục 301 khiến cánh cửa vào Mỹ hẹp thêm một nấc, thì cơ chế hạn ngạch và thuế suất trong dự luật mới có thể khiến cánh cửa ấy hẹp hơn nữa đối với tôm và cá tra Việt Nam.
Ở ngành tôm, các mã sản phẩm nằm trong phạm vi điều chỉnh của dự luật cũng chiếm tới 99,5-99,7% kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ trong ba năm gần đây.
Theo các chuyên gia, điều đáng ngại không phải một sắc thuế mới, mà là các rào cản đang chồng lớp lên nhau. Khi thuế, hạn ngạch và yêu cầu tuân thủ cùng gia tăng, dư địa cạnh tranh bằng giá của DN sẽ ngày càng thu hẹp.
Trước mắt, DN cần rà soát mã HTSUS, thời điểm nhập khẩu, điều kiện giao hàng và điều khoản phân bổ nghĩa vụ thuế trong hợp đồng. Đồng thời, chủ động làm việc với nhà nhập khẩu để thống nhất phương án xử lý. Việc trao đổi sớm với đơn vị tư vấn hải quan tại Hoa Kỳ cũng sẽ giúp hạn chế rủi ro phát sinh.
Giữ được thị phần tại Mỹ sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào năng lực tạo giá trị gia tăng, từ chế biến sâu, xây dựng thương hiệu đến đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Ở tầm chính sách, Vasep kiến nghị Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan liên quan để tăng cường vận động với phía Hoa Kỳ. Trọng tâm là đẩy mạnh ngoại giao cấp Chính phủ, ngoại giao nghị viện và làm việc với các cơ quan hành pháp, các nghị sĩ bảo trợ dự luật cùng các ủy ban của Quốc hội Mỹ. Mục tiêu là đưa tôm và phi lê cá tra Việt Nam ra khỏi phạm vi áp dụng cơ chế hạn ngạch thuế quan.
Song song đó là đẩy mạnh các cuộc tham vấn kỹ thuật, cung cấp dữ liệu và lập luận để bảo vệ lợi ích chính đáng của ngành thủy sản Việt Nam.
Về dài hạn, nhiều chuyên gia cho rằng ngành thủy sản cần coi đây là thời điểm tái định vị năng lực cạnh tranh thay vì chỉ ứng phó với từng rào cản. Đa dạng hóa thị trường và nâng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu sẽ giúp giảm phụ thuộc vào một thị trường đơn lẻ. Đồng thời, DN cần kiểm soát chi phí, nâng năng lực truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững để tăng sức cạnh tranh.
Mỹ có thể tiếp tục dựng thêm các hàng rào thương mại trong thời gian tới. Nhưng năng lực cạnh tranh của thủy sản Việt không thể chỉ dựa vào việc chờ rào cản được gỡ bỏ. Khi cánh cửa vào Mỹ ngày càng hẹp, DN chỉ có thể giữ được thị trường nếu tạo ra lợi thế mà các đối thủ khó thay thế.
Thế Vinh
1 giờ trước
3 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
1 giờ trước
29 phút trước
3 phút trước
6 phút trước
2 phút trước
34 phút trước
37 phút trước
44 phút trước
46 phút trước
53 phút trước