Củ sắn thời chiến tranh
Có thể nói việc chống đói sau năm bị thiên tai, ở quê tôi diễn ra khá sôi động. Thanh niên sức rộng vai dài thì đi chiến trường vãn, chỉ còn phần đông chị em phụ nữ và những người trung niên sức yếu phải tập trung xin giấy giới thiệu của ủy ban hành chính xã rồi nhảy tàu hỏa đến ga Gia Lâm, theo đó lại chuyển tàu đi ngược lên Lạng Sơn để mua sắn, chống đói.
Hành trang của ai cũng có từ 5 đến 6 chiếc bao tải, ghi tên thật to lên chiếc bao bằng nhọ nồi rồi buộc chặt vào đầu chiếc đòn gánh, đi từng đoàn như đi dân công. Cảnh tượng chen chúc nhau lên tàu đi mua sắn không chỉ có người dân quê tôi mà còn nhiều người ở các tỉnh miền xuôi. Những ngày đi lại, ăn đợi nằm chờ ở các ga và ngồi trên tàu hỏa, u tôi cũng như mọi người chỉ ăn khoai khô nấu thành bánh được gói bằng lá chuối khô và uống nước mang theo. Khi xuống tàu, mọi người rủ nhau vào các bản làng mua sắn khô. Mua được sắn, nhất là sắn của đồng bào đã thái thành miếng hoặc ruôi nhỏ, phơi khô, ai cũng mừng, hớn hở, quên cả đói mệt, rồi tất tưởi khiêng vác đến ga tàu, xếp thành đống, chờ tàu xuôi.

Ảnh minh họa: congthuong.vn
Quả là vất vả, phải tới hơn 10 tiếng đồng hồ, con tàu mới về đến ga Gia Lâm. Tất cả người và sắn lại chuyển sang tàu đi hướng Hải Phòng để xuống ga Phú Thái. Sau nhiều giờ chờ mỏi mắt, khi tiếng còi tàu rú lên, xình xịch tiến vào ga rồi từ từ dừng bánh; mọi người lại vội vã khuân vác sắn lên tàu, xếp gọn từng bao cạnh cửa sổ tàu để đưa xuống cho dễ. Bởi trên đoạn đường quê tôi nằm giữa ga Phú Thái và ga Phạm Xá, khoảng cách từ quê đến mỗi ga tới 3 cây số. Nếu hàng và người cùng về ga thì chuyên chở ban đêm rất vất vả. Sau những lần đi, mọi người truyền nhau kinh nghiệm khi tàu qua đoạn đường thôn là quẳng các bao tải sắn xuống để người nhà tìm, đưa về cho tiện. Theo giờ đã định, thông thường hơn 10 giờ đêm, con tàu đi qua đoạn đường quê tôi, nơi mà nhà nào cũng bố trí người cầm đuốc, cầm đèn đứng chờ người nhà trên tàu quẳng những bao sắn xuống hai bên đường để soi tìm đúng tên trên bao là khiêng vác về nhà.
Vậy là sau gần 5 ngày ròng rã, u tôi cũng như mọi người trong thôn quê đã mua được sắn khô từ miền núi về. Cả nhà tôi lại có thêm nguồn lương thực để chờ đến ngày có lúa non. Củ sắn thật đáng quý. Nhờ có củ sắn mà anh em tôi vẫn ngày ngày đến trường. Với tôi, những ngày đi học cấp 3, thường đến hơn 12 giờ trưa mới về. Bụng thắt lại, trong mắt như có “hoa cải, hoa cà” hiện lên. Khi ấy nhìn vào phần cơm mà thầy u tôi để cẩn thận trong nồi một bát tô sắn khô nấu nở bung, dính cả những hạt cơm thơm ngậy. Cạnh đó là một bát canh rau muống. Thật hấp dẫn vô cùng. Chẳng cần bát đũa, tôi cầm những miếng sắn ăn và uống thêm nước canh. Vị thơm của sắn trào dâng một cảm giác rất lạ, khắp người tôi như giãn nở ra. Và tâm hồn tôi lại rạo rực với bao ước mơ và tiếp tục yên tâm học tập. Tôi thầm cảm ơn những người miền núi đã miệt mài lao động trồng ra củ sắn, mang niềm vui đến cho những người vùng quê nghèo như quê tôi thoát nạn đói...
Sau này vào bộ đội, nhất là hành quân qua rừng núi Tây Nguyên, có những lúc nhỡ bữa, vì thiếu gạo, đơn vị tôi lại tổ chức vào rừng đào sắn (do các đơn vị bộ đội đi trước đã trồng). Cũng nhờ có nguồn lương thực này mà cả đơn vị tôi vẫn được ăn no để chuẩn bị cho “đánh thắng”.
Thời gian đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Nhưng ký ức về củ sắn một thời nuôi sống con người vẫn khó nhạt phai. Giờ cuộc sống đã sung túc, đủ đầy, nhưng năm tháng gian khó vẫn gắn kết tình gia đình, quê hương còn theo mãi suốt cuộc đời tôi.
VŨ VIẾT XÔ
9 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
13 giờ trước
16 giờ trước
16 giờ trước