🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Công nghiệp văn hóa và du lịch - Đôi cánh của động lực tăng trưởng mới

4 giờ trước
Cơ hội rất lớn đối với ngành du lịch Việt Nam là ngày 22/8/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Theo đó, gắn phát triển du lịch với phát triển văn hóa; tập trung phát triển nhóm sản phẩm du lịch văn hóa gắn với các lĩnh vực công nghiệp văn hóa...

Du lịch phát triển khi có công nghiệp văn hóa mạnh

Sự đồng hành giữa công nghiệp văn hóa và du lịch không chỉ là xu hướng phát triển tất yếu mà còn là lời giải quan trọng để Việt Nam kiến tạo động lực tăng trưởng mới, đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy hầu hết quốc gia có ngành du lịch phát triển đều đồng thời là những quốc gia có công nghiệp văn hóa mạnh. Nhật Bản đã đưa anime, manga, điện ảnh, kiến trúc, ẩm thực và các lễ hội truyền thống trở thành thương hiệu quốc gia, thu hút hàng chục triệu lượt khách quốc tế mỗi năm. Hàn Quốc xây dựng thành công Làn sóng Hallyu, biến âm nhạc, điện ảnh, thời trang, mỹ phẩm và nghệ thuật biểu diễn thành động lực thúc đẩy du lịch và xuất khẩu. Hoa Kỳ, Pháp, Italy, Tây Ban Nha hay Vương quốc Anh đều coi bảo tàng, nghệ thuật, thiết kế, thời trang, di sản và các sự kiện văn hóa là "nam châm" thu hút khách du lịch toàn cầu. Những quốc gia này không bán tài nguyên thiên nhiên mà bán trải nghiệm văn hóa, bán bản sắc dân tộc và bán những giá trị sáng tạo được kết tinh từ lịch sử hàng trăm năm.

Nhiều chương trình nghệ thuật quy mô lớn góp phần thúc đẩy du lịch địa phương phát triển. Ảnh: BTC Forestival 2026

Việt Nam có điều kiện thuận lợi để đi theo con đường đó. Chúng ta sở hữu kho tàng di sản đồ sộ với hàng chục nghìn di tích lịch sử - văn hóa, hàng nghìn lễ hội truyền thống, hàng trăm làng nghề, hàng nghìn loại hình nghệ thuật dân gian cùng nền ẩm thực được quốc tế đánh giá rất cao. Đây là nguồn nguyên liệu vô tận cho phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và du lịch trải nghiệm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nguồn tài nguyên này vẫn chưa được khai thác tương xứng.

Nhiều điểm đến vẫn chủ yếu dựa vào hoạt động tham quan, thiếu sản phẩm trải nghiệm sáng tạo; nhiều lễ hội mới dừng ở chức năng bảo tồn mà chưa trở thành sản phẩm kinh tế; nghệ thuật biểu diễn truyền thống, điện ảnh, âm nhạc, thời trang, mỹ thuật ứng dụng, thiết kế sáng tạo và công nghiệp giải trí chưa thực sự gắn kết với phát triển du lịch. Điều này dẫn đến thời gian lưu trú của khách quốc tế còn ngắn, mức chi tiêu bình quân chưa cao, tỷ lệ khách quay trở lại còn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực.

Công nghiệp văn hóa chính là "chìa khóa" để nâng cấp chuỗi giá trị gia tăng của ngành du lịch. Một bộ phim nổi tiếng có thể tạo nên một điểm đến mới; một lễ hội được tổ chức chuyên nghiệp có thể trở thành thương hiệu quốc tế; một chương trình biểu diễn nghệ thuật đẳng cấp có thể giữ chân du khách thêm nhiều đêm; một không gian sáng tạo văn hóa có thể hình thành cả một hệ sinh thái tiêu dùng mới.

Nói cách khác, nếu văn hóa là linh hồn của điểm đến thì công nghiệp văn hóa chính là công cụ chuyển hóa linh hồn ấy thành giá trị kinh tế, còn du lịch là thị trường để các giá trị đó được lan tỏa và thương mại hóa. Đây chính là mô hình phát triển mà nhiều nền kinh tế sáng tạo trên thế giới đã chứng minh thành công.

Tầm nhìn phát triển mới

Sau gần 10 năm triển khai, Nghị quyết số 08-NQ/TW đã tạo tiền đề quan trọng trong phát triển du lịch Việt Nam, góp phần thay đổi nhận thức của toàn xã hội về vai trò của ngành du lịch và tạo nền tảng để ngành phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, bối cảnh trong nước và quốc tế đã có nhiều thay đổi. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh, biến đổi khí hậu, sự cạnh tranh gay gắt giữa các điểm đến và yêu cầu tăng trưởng kinh tế 2 con số đặt ra những nhiệm vụ mới cho ngành du lịch.

Nghị quyết 26, vì vậy, không chỉ kế thừa thành quả của Nghị quyết số 08-NQ/TW mà mở ra tầm nhìn phát triển mới, trong đó chuyển từ tư duy phát triển ngành sang phát triển hệ sinh thái kinh tế du lịch; từ khai thác tài nguyên sang khai thác sáng tạo; từ tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, bền vững và giá trị gia tăng cao gắn với các sản phẩm giàu sáng tạo, trải nghiệm đặc sắc.

Lợi thế khác biệt của du lịch Việt Nam chính là văn hóa, di sản, cảnh quan thiên nhiên... Ảnh: TTBTDTCĐH

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Nghị quyết đặt ra mục tiêu chung là gắn phát triển du lịch với phát triển công nghiệp văn hóa, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người, nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh mềm quốc gia.

Về phát triển thị trường, sản phẩm du lịch chất lượng cao, nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch, Nghị quyết yêu cầu xác định rõ lợi thế khác biệt của du lịch Việt Nam về văn hóa, di sản, cảnh quan thiên nhiên và ẩm thực gắn với các thị trường trọng điểm và sản phẩm chủ lực; lấy chất lượng, bản sắc và trải nghiệm khác biệt làm phương thức cạnh tranh chủ đạo. Từ đó, tập trung phát triển nhóm sản phẩm du lịch văn hóa gắn với các lĩnh vực công nghiệp văn hóa như điện ảnh, âm nhạc, giải trí, thời trang, công nghệ số, sáng tạo, kinh tế di sản, kinh tế đêm; hình thành sản phẩm biểu tượng quốc gia, tổ hợp dịch vụ quy mô lớn, chuỗi giá trị văn hóa - du lịch có sức cạnh tranh quốc tế.

Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và thực tế ảo trong quản trị điểm đến, quảng bá, tiếp thị và cá nhân hóa trải nghiệm của du khách; tiếp tục cải cách mạnh mẽ chính sách thị thực, mở rộng kết nối hàng không quốc tế, đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông và hạ tầng số; xây dựng thương hiệu quốc gia theo hướng tích hợp giữa văn hóa, du lịch và công nghiệp sáng tạo; hình thành hệ thống thống kê vệ tinh cho cả du lịch và công nghiệp văn hóa để lượng hóa chính xác đóng góp của hai lĩnh vực đối với GDP, GRDP và việc làm, làm cơ sở hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng.

Quan trọng hơn, chuyển mạnh tư duy phát triển từ "khai thác tài nguyên" sang "kiến tạo giá trị". Mỗi di sản phải trở thành một không gian sáng tạo; mỗi lễ hội phải trở thành một sản phẩm kinh tế; mỗi làng nghề phải trở thành một điểm đến trải nghiệm; mỗi nghệ sĩ, nhà thiết kế, đạo diễn, kiến trúc sư hay đầu bếp đều có thể trở thành những "đại sứ" tạo nên sức hấp dẫn cho du lịch Việt Nam. Khi đó, văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn được tái tạo, sáng tạo và lan tỏa thông qua thị trường du lịch; còn du lịch không chỉ tạo doanh thu mà còn góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc, phát huy sức mạnh mềm quốc gia và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

TS. Đoàn Mạnh Cương

TIN LIÊN QUAN





































Home Icon VỀ TRANG CHỦ